Quỷ dữ từng ghé qua St. Louis

dammage

Rìu Bạc
Năm 1973, bộ phim kinh dị siêu nhiên The Exorcist (Người trừ tà) được công chiếu đã gặt hái thành công lớn. Phim dựa trên cuốn tiểu thuyết best seller cùng tên xuất bản trước đó, và cuốn tiểu thuyết tới lượt nó lại dựa trên một sự kiện hoàn toàn có thật, một vụ quỷ ám diễn ra vào năm 1949.

Mấy chuyện này thiên hạ biết hết trơn rồi, nhưng chắc không có mấy người biết được các chi tiết bên trong vụ quỷ ám đó như thế nào đúng không. Vụ quỷ ám năm 1949 đã thu hút rất nhiều báo giới và dư luận, nhiều cuốn sách đã được viết, nhiều cuộc điều tra khảo sát được tiến hành. Tui không nói là thật sự đã có một con quỷ, nhưng các sự kiện là có thật và nhiều trong số đó vẫn còn mờ ám cho tới ngày nay.

Bài này tui từng dịch và đăng trên vnsharing cũ, tới lúc nó chết thì công tình của tui cũng theo gió theo mây, hên là gần đây tui đã tìm lại được nguồn. Tất nhiên, đã dịch lại thì phải làm tốt hơn xưa. Lưu ý bài này tác giả viết từ năm 2006, bởi vậy các thời gian trong bài nên lấy năm này làm mốc.






THE DEVIL CAME TO ST. LOUIS
Câu chuyện có thật về vụ trừ tà năm 1949
Tác giả : Troy Taylor



Vào năm 1949, quỷ dữ đã ghé qua St. Louis....

Đây là câu chuyện đã được kể lại qua ba thế hệ và tạo cảm hứng cho nhiều sách, phim ảnh và các tài liệu. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là bí ẩn kì lạ nhất của St. Louis. Và phải thừa nhận, câu chuyện đã trở nên mơ hồ và phong phú dần theo năm tháng. Có quá nhiều các giả thuyết, huyền thoại, chuyện kể và các phản biện được bổ sung vào mớ hỗn độn khiến nó trở nên rất khó tách rời giữa sự thật và hư cấu. Vậy, để coi liệu chúng ta có thể biết tường tận về những gì đã xảy ra năm 1949, bất chấp nhiều nghi vấn vẫn chưa được giải đáp hay không.

Chuyện gì đã thật sự xảy ra ở Maryland khiến cho một gia đình phải băng qua gần một nửa đất nước để tìm kiếm câu trả lời? Và chuyện gì đã xảy ra tại bệnh viện Alexian Brothers cũ làm cho những cựu nhân viên đến ngày nay vẫn còn thì thầm về nó trong sợ hãi? Và trên hết, có thật là cậu bé đã bị ám bởi một con quỷ hay không?





PHẦN I : KHỞI ĐẦU

Mọi chuyện thật ra không bắt đầu tại St. Louis mà tại một vùng ngoại ô nào đó ở Washington D.C, ở Maryland hay Mount Rainer. Người ta vẫn đang tranh cãi về vị trí chính xác của ngôi nhà nơi biến cố xảy ra. Như hầu hết bạn đọc đã biết, "Vụ Quỷ Ám Ở St. Louis" đã trở thành nguồn cảm hứng để William Peter Blatty viết nên cuốn tiểu thuyết best seller vào năm 1971, hai năm sau cuốn sách được dựng thành bộ phim nổi tiếng The Exorcist. Trong sách, một cô bé đã bị quỷ nhập và trở thành đối tượng trừ tà cho các linh mục Công Giáo. Tuy nhiên trong câu chuyện thực tế, nạn nhân bị nhập lại là một cậu bé được công chúng biết tới với mật danh là Robbie Doe (hoặc Ronald Doe hay Roland Doe). Robbie sinh năm 1935, là đứa con duy nhất trong một gia đình hay xào xáo và có một tuổi thơ nhiều rắc rối.

Vào tháng Giêng năm 1949, Robbie được 13 tuổi, gia đình bắt đầu bị làm phiền bởi những âm thanh cào cấu vọng ra từ bên trong các bức tường và trần nhà. Tưởng rằng ngôi nhà có chuột, cha mẹ cậu đã gọi người tới kiểm tra nhưng không phát hiện được bất kì dấu hiệu gì. Mọi việc càng trở nên tệ hơn nữa. Họ hay nghe thấy những tiếng động giống như có ai đó đang đi ngoài hành lang. Chén dĩa và đồ vật thường bị thay đổi vị trí mà không rõ tại sao.

Những tiếng động đó tuy gây nhiều phiền hà, nhưng không khiến họ sợ hãi cho tới khi Robbie bắt đầu bị tấn công. Giường của cậu bị rung lắc mạnh tới nỗi cậu không thể ngủ được vào ban đêm. Mền gối và dra giường bị xé nát, và khi Robbie cố níu chúng lại, cậu đã bị lôi từ trên giường xuống sàn nhà.

Những người nào tin Robbie thực sự bị ám cho rằng, cậu bé bắt đầu bị một thực thể vô hình tấn công sau khi thử với một bảng Ouija. Cậu đã được dạy sử dụng bảng này bởi dì Tillie, một người bà con rất thích chuyện tâm linh và thế giới vô hình. Tillie đã qua đời một thời gian ngắn trước khi các biến cố bắt đầu. Người ta cho rằng chính linh hồn của bà đã quấy phá cậu bé. Nhưng xét về thời gian chết thì không đúng lắm. Tillie sống ở St. Louis và chết vì bệnh đa xơ cứng vào 26 tháng Giêng năm 1949, nhiều ngày sau khi bắt đầu các hiện tượng xảy ra xung quanh Robbie.

Một trang của cuốn nhật kí trừ tà – “Một ca nghiên cứu bởi Các tu sĩ Dòng Tên”

Nhiều biến cố ban đầu của vụ ám đã được các tu sĩ Dòng Tên ghi chép lại (họ cũng chính là những người về sau đã thực hiện lễ trừ tà). Lần lần, các tu sĩ đã ghi thành một cuốn nhật ký. Năm 1949, William Peter Blatty khi đó đang là sinh viên ở đại học Georgetown, ông bắt đầu trở nên quan tâm về vụ việc khi đọc tin trên các bài báo và thảo luận với giảng viên của mình, mục sư Dòng Tên Thomas Bermingham.

Cuốn “nhật kí” về vụ việc của Robbie Doe đã được phơi bày ra ánh sáng vào mùa thu năm 1949 trong các tình huống khá kì quặc. Cha Dòng Tên Eugene B. Gallagher lúc đó đang là giáo sư giảng dạy ở đại học Georgetown. Trong một buổi giảng của ông về chủ đề trừ tà, có một sinh viên đã nhắc tới một cuốn nhật ký về vụ trừ tà cho Robbie Doe đang được các tu sỹ Dòng Tên cất giữ. Cậu sinh viên này vốn là con của một bác sỹ tâm thần mà dường như có tham gia vào vụ trừ tà. Cha Gallagher có hỏi xin vị bác sỹ một bản sao của cuốn nhật ký và đã nhận được một tài liệu 16 trang, có tựa đề "Một ca nghiên cứu bởi các Tu Sĩ Dòng Tên”. Nó được dùng như bản hướng dẫn cho các vụ trừ tà trong tương lai. Blatty cũng xin phép được đọc một bản của cuốn nhật ký nhưng yêu cầu của anh bị từ chối.

Blatty đành quay qua lấy thông tin từ báo chí. Anh phát hiện ra tên của một tu sĩ có liên quan, Mục Sư Dòng Tên William S. Bowdern ở St. Louis. Bowdern từ chối bình luận về vụ việc với báo giới. Nghe nói các tu sĩ thực hiện nghi thức trừ tà đều thề giữ bí mật. Blatty đã cố liên hệ với ông ta nhưng vị linh mục từ chối hợp tác. Cuối cùng, trong cuốn tiểu thuyết của mình, Blatty đã thay đổi thân thế của nạn nhân vụ ám thành một cô bé, nhưng vị trừ tà thì vẫn phản phất hình ảnh của Bowdern.


Cha William S. Bowdern, một trong các linh mục đã tham gia trừ tà cho Robbie

Cha Bowdern qua đời năm 1983, ông chưa từng công khai thừa nhận có liên quan tới vụ ở St. Louis. Tuy nhiên, ông có nói chuyện với các tu sĩ Dòng Tên khác và dần dần những câu chuyện này đã tới tai một người tên là Thomas Allen, là tác giả và biên tập viên của tờ National Geographic. Allen bằng cách nào đó đã tìm được một trong những người đã tham gia vào sự việc, Walter Halloran thuộc Dòng Tên, lúc đó đang sống trong một thị trấn nhỏ ở Minnesota. Halloran ban đầu cũng ngờ vực đề phòng nhưng ông đã thừa nhận rằng có tồn tại một cuốn nhật ký. Liệu đó có phải là cuốn nhật kí đã lọt vào tay cha Gallagher không? Không biết được.

Theo đồn đại, cuốn nhật kí mà Halloran đề cập vốn là một tài liệu 26 trang đã được lụm ra khỏi bệnh viện Alexian Brothers cũ ngay trước khi nó bị tháo dỡ. Vậy thì cái bản nhật kí 16 trang kia đến từ đâu? Chuyện gì đã xảy ra với nó? Nhiều nguồn tin cho rằng, mùa xuân 1950, cha Gallagher đã đưa cho vị trưởng khoa đại học Georgetown là cha Dòng Tên Brian McGrath mượn. Tới khi Gallagher tìm cách lấy lại thì chỉ nhận được có 9 trang, 7 trang của cuốn nhật ký đã mất, và 9 trang kia cũng chỉ là bản photocopy.

Vậy còn bản nhật ký 26 trang thì sao? Các nguồn tin nói rằng phiên bản “mở rộng” này được tìm thấy trong bệnh viện Alexian Brothers tại đường South Broadway ở St. Louis. Cánh tâm thần cũ của bệnh viện đã bị tháo dở năm 1978. Một trong số các công nhân khi dọn đồ nội thất ra ngoài đã tìm thấy tài liệu này trong một hộc tủ bên trong một căn phòng khóa kín. Anh ta đưa nó cho vị đốc công, rồi người này trao lại cho ban quản trị bệnh viện. Cuốn nhật kí sau đó đã được xác định là viết bởi Mục sư Dòng Tên Raymond Bishop, một tu sĩ đã tham gia trong vụ trừ tà. Bản thảo gốc đã được giấu kín nhưng cha Halloran đã tiếp cận được nó. Ông có chép lại một bản sao và gởi cho Allen, và Allen đã xuất bản một cuốn sách về nó vào năm 1993.


Thomas B. Allen, tác giả cuốn Possessed: The True Story of an Exorcism
viết về vụ trừ tà năm 1949 ở St. Louis

Rốt cuộc, tấc cả chi tiết mà chúng ta có về vụ ám là từ cuốn nhật ký và từ các nhân chứng có mặt vào lúc đó. Nhà Thờ Công Giáo chưa hề công bố bất kì chi tiết nào của câu chuyện. Và tuy cuốn nhật ký đã hé lộ nhiều chi tiết, vẫn còn nhiều chi tiết khác đã bị bỏ qua và lãng quên theo năm tháng.

Tiếp tục câu chuyện của Robbie

Như đã đề cập ở trên, từ chỗ những tiếng động kì lạ và các vết cào xước, vụ việc đã tiến triển thành những cuộc tấn công thật sự lên chính Robbie. Mẹ của Robbie lo lắng rằng những chuyện này có thể liên quan tới dì Tillie nên đã tìm cách liên hệ với linh hồn của bà ta. Theo như ghi chép của các tu sĩ trong nhật kí, bà mẹ đã hỏi lớn và khẩn cầu rằng, nếu đó thật sự là linh hồn của Tillie thì hãy gõ 3 lần. Sau đó, Robbie cùng mẹ và bà nội cảm thấy một làn không khí thổi qua, họ nghe 3 tiếng gõ trên sàn nhà. Mẹ của Robbie hỏi lại nữa, lần này là yêu cầu gõ bốn tiếng, vẫn được đáp lại. Ngay sau đó là những tiếng cào xước trên nệm và giường bắt đầu rung lắc. Tuy vậy vẫn chưa thể biết chắc những hiện tượng rùng rợn đó có liên quan tới hồn ma của dì Tillie hay không.

Một số lời giải thích khác cho rằng, Robbie có thể là nạn nhân của “hiện tượng yêu tinh” (poltergeist). Theo đó, nhiều người thực sự có siêu năng lực tinh thần (psychokinesis) và đã vô tình làm cho đồ vật di chuyển ở những nơi họ hiện diện. Nó thường liên quan tới những thiếu niên rắc rối và đã được ghi chép nhiều lần theo năm tháng. Một số khác thì tin cậu bé đã thực sự bị ám, và thứ vô hình đang hiện hữu trong ngôi nhà đó hoàn toàn không liên quan gì tới dì Tillie.

Lúc bấy giờ, gia đình đã trở nên tuyệt vọng, họ bắt đầu tìm kiếm sự giúp đỡ cho Robbie. Và theo một nguồn tin từ 1975, họ đã mời hai mục sư Tin Lành và một giáo sĩ Do Thái giáo. Nhiều người thắc mắc tại sao lại có mặt giáo sĩ Do Thái ở đây, trong khi lúc nhỏ Robbie được rửa tội theo nghi thức Tin Lành, có thể một trong hai mục sư đã gọi ông ta theo. Và trong lúc đang kiểm tra cậu bé, Robbie thình lình bắt đầu la lối bằng một thứ tiếng kì lạ. Sau một lúc lắng nghe, vị giáo sĩ cho biết rằng cậu bé đang nói tiếng Do Thái! Không chỉ vậy, các nguồn tin còn nói rằng, có một giáo sư từ đại học Washington về sau cũng đã nghe tiếng của Robbie. Và ông đã nhấn mạnh, rằng cậu đang nói tiếng Aramaic, một ngôn ngữ cổ xưa của Palestine. Nếu nguồn tin này là đúng, chúng ta phải thắc mắc làm sao mà một cậu bé 13 tuổi từ Maryland lại có thể nói được tiếng Aramaic?

Mục sư Tin Lành Luther Schulze đã thử cầu nguyện cùng với Robbie và cha mẹ cậu bé tại nhà. Ông cũng đưa cậu tới nhà thờ để cầu nguyện và khẩn xin thế lực đang ám cậu bé hãy rời đi. Tuy nhiên đều vô ích, những tai ách kì lạ vẫn cứ diễn ra. Người trong nhà tiếp tục nghe thấy những tiếng động kì lạ, giường của Robbie vẫn tiếp tục rung lắc đong đưa khiến cậu hoàn toàn không thể ngủ được vào ban đêm. Cuối cùng, vào tháng 2, Schulze muốn biết rằng liệu thứ bị ám ở đây là ngôi nhà hay bản thân cậu bé. Ông đề nghị cho Robbie qua đêm ở nhà riêng của mình. Cha mẹ cậu bé đã đồng ý.

Đêm đó, bà Schulze ra ngủ ở phòng khách, còn Robbie và vị linh mục thì ngủ trên 2 chiếc giường trong phòng ngủ chính. Khoảng mười phút sau, Schulze đã kể lại rằng ông nghe thấy tiếng cọt kẹt và rung lắc từ giường của Robbie. Ông cũng nghe những tiếng cào xước từ bên trong các bức tường, hệt như những âm thanh nghe được ở nhà của Robbie. Schulze nhanh chóng bật đèn lên và thấy rõ ràng chiếc giường đang rung. Khi ông cầu nguyện cho nó dừng lại, chiếc giường thậm chí còn rung dữ dội hơn. Ông nói rằng Robbie khi đó vẫn thức, nhưng cậu hoàn toàn nằm yên và không thể gây cho chiếc giường rung được.

Sau đó Schulze đề nghị Robbie thử ngủ trên một chiếc ghế nặng có tay vịn ở phía bên kia phòng. Trong khi Schulze quan sát cậu bé, chiếc ghế bắt đầu đong đưa. Vị mục sư đề nghị cậu giở 2 chân lên và dồn hết trọng lượng lên chiếc ghế, nhưng vẫn không ngăn được nó chuyển động. Chỉ một lúc sau đó, nó bật vào tường và lật ngược làm cậu bé bị té xuống đất.

Cố gắng không sợ hãi hay hèn nhát, mục sư Schulze đã trải vài tấm dra xuống sàn cho Robbie ngủ. Ngay khi cậu bé vừa thiếp đi, các tấm dra bắt đầu trượt ngang qua phòng và chui xuống dưới gầm giường. Robbie giật mình thức dậy, đầu cậu đập vào hông giường. Mục sư tiếp tục trải lại các tấm dra và một lần nữa, chúng lại trượt trên sàn nhà và chui xuống dưới giường. Suốt thời gian đó, mục sư thấy rõ hai tay của Robbie và cơ thể cậu vẫn nằm thẳng. Mục sư cũng nói rằng các tấm dra không hề có nếp nhăn khi trượt trên sàn, điều mà lẽ ra phải có nếu ai đó đang kéo chúng.


Mục sư Tin Lành Luther Schulze đã tận mắt chứng kiến các hiện tượng siêu nhiên
vào cái đêm Robbie ngủ lại tại nhà riêng của ông

Sau cái đêm sóng gió đó, Schulze vừa bối rối pha chút sợ hãi. Ông đề nghị cha mẹ của Robbie đưa cậu bé tới gặp bác sĩ và nhà tâm thần học để kiểm tra thử, coi liệu có bất kì vấn đề tâm lí hay tâm thần nào có thể gây ra hiện tượng đó không. Vị mục sư cũng liên hệ với J.B. Rhine, nhà sáng lập nổi tiếng của phòng thí nghiệm siêu linh ở đại học Duke. Rhine và vợ đã lái xe từ North Carolina tới để gặp cậu bé. Không may là, không có hiện tượng nào diễn ra trong thời gian các chuyên gia có mặt ở đó. Tuy nhiên, Rhine đã tiến hành nhiều thí nghiệm khảo sát và cuối cùng kết luận, dường như đây chỉ là một trường hợp điển hình của hiện tượng yêu tinh. Cậu bé Robbie có siêu năng lực tinh thần và đã vô tình tác động lên các đồ vật xung quanh.

Lời giải thích này dường như đã làm Schulze hài lòng. Nhưng không lâu sau đó, ông đã thay đổi suy nghĩ khi các hiện tượng lại tiếp tục. Khoảng một tuần sau sự việc tại nhà của vị mục sư, các vết cào xước rỉ máu bắt đầu xuất hiện trên thân thể của cậu bé. Có lẽ bị sửng sốt bởi loạt biến cố mới này, Schulze đã đề nghị gia đình liên hệ với một linh mục Công Giáo.

Và đây là lúc mọi thứ bắt đầu trở nên mơ hồ hơn nữa.

Theo vài nguồn tin, gia đình của Robbie sau đó quay qua tìm kiếm sự giúp đỡ từ phía Nhà Thờ Công Giáo. Cha của cậu đã đi tới nhà thờ gần đó là St. James ở Mount Rainier, Maryland. Tại đây, ông gặp vị trợ lý của nhà thờ, một tu sĩ trẻ có tên là Edward Albert Hughes. Anh ta đã ngờ vực và miễn cưỡng không muốn dính vào sự việc, nhưng cuối cùng đã đồng ý đi gặp Robbie. Trong suốt chuyến thăm đó, Robbie đã giao tiếp với vị tu sĩ trẻ bằng tiếng Latin, một ngôn ngữ mà anh ta không biết. Bị chấn động bởi sự việc, Hughes đã xin vị tổng giám mục của mình cho phép thực hiện một buổi trừ tà.

Các nguồn tin tiếp tục nói rằng nghi thức đã được tiến hành ở bệnh viện Georgetown vào tháng hai. Robbie giống như rơi vào trạng thái bị thôi miên, cậu vùng vẫy dữ dội và từ miệng phát ra nhiều giọng nói khác nhau. Hughes đã ra lệnh kiềm chế cậu lại, nhưng bằng cách nào đó cậu bé đã gỡ được một sợi dây kim loại từ giường quất vào vị tu sĩ. Chuyện kể rằng Hughes sau đó đã rời nhà thờ St. James, bị suy nhược thần kinh và trong suốt phần đời còn lại anh chỉ có thể giơ cao đồ cúng lễ bằng một tay.


Edward Albert Hughes, vị linh mục Công Giáo đầu tiên mà gia đình Robbie nhờ giúp đỡ

Chuyện kể thì là vậy, nhưng theo một nghiên cứu được thực hiện bởi Mark Opsasnick vào năm 1999, mà chính tôi đã xác nhận ba năm sau đó, rằng tấc cả chuyện này hoàn toàn không hề xảy ra. Biến cố này chỉ xuất hiện trong cuốn sách Possessed của Thomas Allen mà thôi. Có nhiều phỏng đoán, giả định cũng như các vấn đề khác trong cuốn sách của ông ta, và đây là một trong số đó. Câu chuyện về cha Hughes hóa ra hoàn toàn không đúng.

Cha Hughes trở thành linh mục trợ lý của nhà thờ James Church dưới thời Mục sư William Canning vào tháng sáu năm 1948, và ông đã phục vụ liên tục không gián đoạn cho tới tháng sáu năm 1960. Sau đó ông về hưu năm 1973 nhưng vẫn tiếp tục ở lại St. James cho tới khi mất năm 1980. Các ghi chép của Nhà Thờ không hề đề cập gì tới việc ông từng bị suy nhược, cũng như chưa từng có ý định trừ tà cho Robbie ở bệnh viện đại học Georgetown. Thực tế, trong suốt khoảng thời gian mà vụ trừ tà hư cấu đó diễn ra, Robbie có nhập viện vài ngày, nhưng chỉ vậy thôi. Các ghi chép nói rằng cậu đã được chữa bằng nhiều giải pháp tâm thần và y khoa.

Cha Hughes cũng chưa từng ghé thăm Robbie tại nhà. Sự thật là, mẹ cậu bé có đưa cậu tới nhà thờ St. James nhưng chỉ để xin ý kiến. Không có gì chứng tỏ Robbie đã nói với cha Hughes bằng tiếng Latin và không có bằng chừng nào cho thấy vị tu sĩ đã bị quất bằng dây xích giường. Những người có quen biết cá nhân Hughes đều nhớ rõ là ông không hề có thương tật gì trong khoảng thời gian này, lịch công tác của nhà thờ cũng cho thấy ông khá bận rộn suốt nhiều tuần sau khi Robbie xuất viện.

Có lẽ sự mơ hồ về vai trò của Hughes trong câu chuyện là từ viên linh mục trợ lý của ông. Sau này, Hughes cũng có một linh mục trợ lý là Frank Bober. Người này cho biết Hughes đã từng thổ lộ với ông về ý định trừ tà đầu tiên. Về sau, Bober trở thành nhân vật quan trọng trong vụ việc do rất sẵn lòng tiếp xúc báo giới. Ông ta xuất hiện trong vô số bài báo, sách và các tài liệu về vụ ám. Thomas Allen đã trích dẫn Bober như là “cực kì đáng tin cậy” về vai trò của Hughes trong sự vụ. Những người khác thì tin rằng Bober chỉ “kịch hóa” nhiều biến cố được nghe kể lại và tạo ra nhiều mơ hồ xunh quanh phần này của câu chuyện. Ai biết được?

Nhưng cho dù chuyện này là không có thật đi nữa, những ghi chép về các tình tiết xảy ra trong khoảng thời gian này cũng đã đủ kì lạ.

Theo hồ sơ của bệnh viện, Robbie đã nhập viện trong thời gian từ ngày 28 tháng 2 năm 1949 tới 2 tháng 3 năm 1949. Nhưng theo cuốn nhật kí của tu sĩ, những thứ kì lạ đã bắt đầu xảy ra từ 26 tháng 2. Theo các ghi chép, có những vết xước xuất hiện trên người cậu bé trong 4 đêm liên tiếp. Sau đêm thứ tư, có những chữ viết bắt đầu xuất hiện. Những kí tự này rất rõ và dường như được cào lên người cậu bé bằng móng vuốt.


Bệnh viện Đại học Georgetown, nơi Robbie nhập viện vài ngày trước khi dọn tới St. Louis

Trong khoảng thời gian này, mẹ của Robbie cho rằng có lẽ một chuyến đi xa khỏi Maryland có thể giúp giải thoát cậu bé khỏi những thứ kì lạ đang xảy ra. Bà nghĩ họ có thể tới thăm St. Louis và bỏ lại những rắc rối sau lưng. Mẹ của Robbie vốn là dân gốc ở thành phố này và vẫn có nhiều bà con ở đó. Thật kì lạ, thực thể đang ám Robbie cũng đồng ý với ý tưởng này bởi vì từ "LOUIS" bổng xuất hiện một cách khó hiểu trên xương sườn cậu bé. Khi bức “thông điệp” này xuất hiện, có nhiều nhân chứng hiện diện tại đó, họ thấy rõ hai tay của Robbie và cậu không thể tự cào lên mình được. Các kí tự đó chỉ đơn giản là tự nhiên hiện ra.

Nhật kí thầy tu thậm chí còn ghi rằng các chữ viết cũng xuất hiện trên lưng của Robbie. Về sau, lúc ở St. Louis, mọi người định cho Robbie tới trường nhưng một thông điệp “NO” đã xuất hiện trên hai cổ tay của cậu. Một chữ “N” lớn cũng xuất hiện trên mỗi chân. Mẹ cậu tuy sợ hãi nhưng vẫn quyết định bất tuân các mệnh lệnh siêu nhiên này. Nhiều người đặt giả thuyết rằng có lẽ chính Robbie đã khắc những chữ viết đó bằng ý nghĩ, dù vô tình hay cố ý, để khỏi phải đi học. Tuy nhiên nên nhớ rằng trước khi cha mẹ cậu hỏi xin ý kiến của tu sĩ, họ đã đưa cậu tới gặp một chuyên gia tâm thần và một bác sĩ y khoa. Họ đã kiểm tra và cho biết Robbie là 1 cậu bé khá bình thường.

Ở điểm này, các ghi chép nói rằng mẹ của Robbie đã đưa cậu tới hỏi ý của cha Hughes tại nhà thờ St. James. Ông đề nghị gia đình thử sử dụng đèn cầy phúc lành, nước thánh và những lời kinh khấn đặc biệt để hy vọng có thể dứt điểm vấn đề của cậu bé. Mẹ của Robbie đã thử làm theo lời khuyên này. Có lần, một cây lược đã bay mạnh qua không khí và trúng vào đám đèn cầy làm tắt hết lửa. Sau đó, một trái cam và lê đã bay ngang qua phòng của Robbie. Bàn trong bếp cũng từng bị lật ngược khi có mặt cậu bé, sữa và thức ăn cũng bay khỏi kệ và rớt xuống sàn. Lần khác, một chiếc áo khoát bị giật khỏi giá treo và một cuốn kinh thánh rớt xuống chân của Robbie. Cái ghế mà cậu đang ngồi đã xoay nhanh tới mức cậu không thể ngừng được. Cuối cùng, nghe nói Robbie đã phải nghỉ học do bàn của cậu cứ liên tục di chuyển.

Theo các ghi chép, Robbie sớm bị đuổi khỏi lớp 8 trường trung học cơ sở Bladensburg vào 1949. Nhiều bạn học chung khi đó và những người lối xóm sau này nói rằng, Robbie là đứa trẻ có vấn đề và thường vướng vào rắc rối. Mặc dù các hồ sơ của trường không phản ánh những vấn đề như vậy, nhưng có thể đó là do các hiện tượng dị thường đang bám riết lấy cậu bé. Nếu người ta nghĩ rằng cậu đã làm giả chuyển động của bàn học, dời chỗ đồ dạc và các hiện tượng khác, họ có thể tin rằng Robbie là kẻ gây rắc rối hoặc muốn thu hút sự chú ý. Nhiều người tin rằng cậu bé hoàn toàn không hề bị nhập, rằng Robbie chỉ khiến họ thêm hoài nghi về tôn giáo mà thôi.

Một vài báo cáo cũng khá kì quặc. Chẳng hạn chuyện hàng xóm nghe được những tiếng khóc kì lạ, cũng như tiếng đồ đạc va đập phát ra từ ngôi nhà của Robbie. Một người từng là bạn học của Robbie kể lại, "năm lớp 8, chúng tôi học chung lớp với nhau tại trường trung học Bladensburg. Có lần cậu ta đang ngồi thì cái bàn học rung rinh lắc lư cực kì nhanh. Tôi nhớ giáo viên đã nạt cậu ta dừng lại, và cậu cũng nạt lại “Không phải em làm”. Sau đó họ đưa cậu ra khỏi lớp, và đó là lần cuối cùng tôi thấy cậu ta ở trường... Tôi không biết có phải cậu ta không hay cái gì đã gây ra vì không nhớ rõ nữa. Ban đầu gia đình họ rất kín miệng với lối xóm, không ai biết thứ gì hết. Một thời gian sau, tôi không thấy cậu ta nữa mặc dù vẫn hay thấy cha cậu. Tôi nhớ có tới nhà Robbie, người bà cho biết cậu đã tới St. Louis thăm bà con và sẽ không trở về một thời gian. Từ những gì đã thấy, tôi biết có điều gì đó kì lạ đã xảy ra nhưng không biết nó là gì. Đến khi tờ Washington Post có đăng một bài báo vào mùa hè năm đó, tôi biết ngay đó chính là Robbie."

Có nguồn tin nói rằng, sau khi Robbie rời đi, các hoạt động siêu nhiên vẫn tiếp tục xảy ra tại ngôi nhà của gia đình. Nhật kí thầy tu có viết rằng, bà mẹ đã lấy chai nước thánh rảy khắp tấc cả phòng. Sau đó bà đặt cái chai lên một cái kệ nhưng nó bay vụt vào không trung và rớt xuống sàn nhà, nhưng không bị bể.

Một báo cáo năm 1975 khẳng định rằng, người ta đã định rửa tội để Robbie cải qua đạo Công giáo nhằm có thể giúp đỡ cậu. Báo chí có đề cập rằng một buổi lễ rửa tội đã được thực hiện trong thời gian Robbie nhập viện (không phải là trừ tà như được đưa tin sau đó), một lần khác là về sau nay lúc ở St. Louis. Một lần nữa diễn ra tháng 2 năm 1949. Người ta nói rằng, khi chú của Robbie lái xe đưa cậu tới nhà nguyện để thực hiện nghi thức, cậu bé thình lình nhìn người chú trừng trừng, chụp lấy cổ họng ông ta và la lớn, “Đồ chó đẻ, mày nghĩ tao sắp được rửa tội nhưng mày bị gạt rồi!”

Nghi thức rửa tội Công giáo thường chỉ tốn khoảng 15 phút nhưng với Robbie, các nguồn tin nói rằng nó đã diễn ra nhiều tiếng đồng hồ. Khi vị linh mục hỏi “Con có chối bỏ quỷ dữ và tấc cả việc làm của hắn không?”, Robbie đã vùng vẫy một cách điên cuồng dữ dội tới mức người khác phải kiềm cậu lại.

Như đã nói, Robbie xuất viện vào ngày 2 tháng 3. Trong thời gian đó, một biến cố kì lạ đã xảy ra mà tôi vô tình biết được nhờ một người đã lớn lên tại khu vực Washington, D.C. Anh ta nói đã nghe chuyện này từ cha của một người bạn vào mùa hè 1982. Ông già kể rằng đó là một trong những khoảnh khắc sợ hãi nhất trong cuộc đời mình, và nó đã xảy ra trong bệnh xá cũ ở Georgetown năm 1949.

Năm đó có một trận dịch cúm bùng phát, hầu hết những đứa trẻ từ 12 tới 15 tuổi trong xóm (bao gồm ông ta) được chuyển tới bệnh xá để theo dõi. Khoảng 9 giờ tối đêm đó, hai bác sỹ cùng một cậu bé trạc 14 tuổi bước vào phòng nơi ông và những đứa trẻ khác đang ở. Dĩ nhiên ông và những đứa khác không hề biết gì về cậu bé này. Ông và những đứa khác đã nhìn thẳng vào cậu bé, và cậu đã trừng mắt nhìn lại. Ông kể rằng vào lúc đó ông đã sợ khiếp đảm, nhiều đứa trẻ khác đã lớn tiếng đọc kinh cầu Chúa và đức Mary. Ông kể rằng đã quá sợ hãi ánh mắt của cậu bé tới nỗi đã không thể ngủ được trong nhiều đêm. Chừng năm phút sau, cậu bé đó đã cùng các bác sĩ rời khỏi phòng. Khoảng một năm sau ông mới biết được rằng đó chính là cậu bé đang bị quỷ ám. Cậu đã bị giữ suốt đêm đó ở bệnh xá trước khi chuyển tới St. Louis.

Không lâu sau khi xuất viện trong tình trạng bình thường, Robbie đã cùng cha mẹ lên xe lửa tới St. Louis. Gia đình đã được đón tiếp ân cần bởi họ hàng ở Normandy, nằm về phía tây bắc của vùng St. Louis rộng lớn thuộc bang Missouri. Tại đây, mẹ của Robbie hi vọng rằng cậu bé có thể được giải thoát khỏi các biến cố khủng khiếp và quái lạ. Những độc giả nào vẫn tin rằng không hề có chuyện gì xảy ra trong vụ ám này, tấc cả chỉ là sự tưởng tượng thái quá và niềm mê tín ngu ngốc, xin nhớ cho rằng nội chuyến đi của họ tới St. Louis thôi đã là một bằng chứng cho thấy có thứ gì đó kì lạ (dù có siêu nhiên hay không) xảy ra rồi. Cha mẹ của Robbie đã phải dọn cho cậu bé ra khỏi nhà, người cha thì phải di chuyển tới lui, mạo hiểm công ăn việc làm của mình, họ đã phải băng qua một nửa đất nước trong nỗ lực cuối cùng tìm kiếm sự giúp đỡ. Những việc đó cho thấy có thứ gì đó khủng khiếp đã thật sự diễn ra.

Thật không may, tình trạng của Robbie không hề cải thiện chút nào ở St. Louis. Cô chú và các họ hàng khác của cậu đã chứng kiến thêm các “thông điệp trên da”, cũng như nhiều lần nhìn thấy giường và nệm của cậu rung lắc. Tới ngày 8 tháng 3 năm 1949, hiện tượng nệm giường bị rung và các vết cào vẫn tiếp tục. Một chiếc ghế đẩu ở gần giường đã bay ngang qua phòng ngay trước mắt của người anh họ. Người này rất lo lắng cho Robbie nên đã thử nằm lên giường kế bên cậu để ngăn tấm nệm đang rung lắc. Nhưng vô ích. Cuối cùng, trong số họ hàng có người lúc đó đang học ở đại học St. Louis, bà đã tới gặp giáo viên cũ của mình, giám mục Dòng Tên Raymond để hỏi liệu ông có thể giúp đỡ cho Robbie hay không. Chúng ta không biết ông trả lời thế nào, nhưng ông đã đồng ý xem xét vụ việc. Đây chính là vị giám mục đã lôi William Bowdern vào vụ ám.


Cha William Bowdern là người đóng vai trò rất quan trọng trong vụ trừ tà cho Robbie

Bowdern lúc đó không phải là giáo sư giảng dạy của đại học St. Louis. Năm 1949, ông là linh mục của nhà thờ St. Francis Xavier nằm ở góc đường Grand và Lindell. Ông vốn là dân gốc ở St. Louis và từng phục vụ trong suốt Chiến tranh Thế giới II với vai trò tuyên úy. Bowdern có nhiều năm kinh nghiệm để xử trí với mọi người và các vấn đề của họ. Ông đã lắng nghe câu chuyện mà giám mục Raymond kể một cách cẩn thận. Sau đó, ông và Raymond đã tới gặp Paul Reinert, chủ tịch của trường đại học. Tấc cả họ đều nghi ngờ về ca quỷ ám này và lo rằng có thể gây cho nhà thờ và trường bị bẽ mặt. Cuối cùng, họ quyết định sẽ làm nghi thức ban phúc cho Robbie và hướng dẫn cậu cầu nguyện, dù sao chuyện đó cũng đâu hại gì.

Giám mục Raymond đã đi trước một mình tới nơi Robbie tá túc. Ông ban phúc cho ngôi nhà và căn phòng mà Robbie ngủ. Một thánh tích nhị phẩm của St. Margaret Mary được ghim lên giường của cậu. Nhưng thậm chí sau khi đã ban phúc và có thánh tích, giường vẫn rung và đong đưa, các vết cào xước vẫn xuất hiện khắp người cậu bé. Vị giám mục mới rảy nước thánh lên giường theo hình chữ thập thì nó thình lình ngừng lại. Nhưng một lát sau, khi ông bước ra khỏi phòng, nó lại bắt đầu rung lắc trở lại.

Hai đêm tiếp theo cũng trôi qua y chang vậy, nệm rung, các vết cào và đồ vật bay tứ tung. Tới ngày 11 tháng 3, giám mục Raymond lại tới nhà và lần này, ông có đưa theo cha Bowdern. Hai vị tu sĩ Dòng Tên vẫn còn nghi ngờ về vụ việc nhưng đã cởi mở hơn đủ để chịu quan sát cậu bé, cũng như nghiên cứu tài liệu về các vụ ma quỷ tấn công con người. Hai tu sĩ đã tới nhà và cầu nguyện nhưng lần này không có hoạt động siêu nhiên nào diễn ra. Tuy nhiên, ngay khi Raymond và Bowdern rời đi, một tiếng động lớn phát ra từ phòng của Robbie, năm người bà con lao vội tới để coi chuyện gì xảy ra. Họ nhìn thấy một kệ sách nặng 75 pound đang xoay thành một vòng tròn hoàn hảo, một cái ghế dài bị lật ngửa, một thánh giá mà các tu sĩ để lại dưới gối của Robbie đã bị di chuyển tới cuối giường, và nệm giường thì bị rung và lắc lư dữ dội.

Không may là, không hề có thông tin rõ ràng đáng tin cậy về việc làm thế nào mà các tu sĩ Dòng Tên đã quyết định tiến hành nghi thức trừ tà. Theo học thuyết của nhà thờ, cần phải đáp ứng nhiều điều kiện khác nhau thì mới có thể kết luận ai đó thực sự bị nhập. Tôi không biết liệu Robbie có đáp ứng được những điều kiện này không, chỉ biết là, Bowdern và Raymond đã tới gặp vị Tổng Giám Mục Joseph E. Ritter để xin phép tiến hành lẽ trừ tà vào ngày 16 tháng 3. Ritter là người có tiếng tăm nổi lên như sóng cồn. Vài năm trước đó, ông đã có một chiến dịch khó khăn để kết hợp các trường học và các giáo xứ ở St. Louis. Về sau, ông cũng đóng vai trò lớn trong các cải cách nhà thờ sâu rộng được biết tới với tên gọi là Công Đồng Vatican II. Các tu sĩ dòng Tên vốn đã có lịch sử căng thẳng với các nhà thờ thông thường, bởi vậy, họ cũng không biết liệu Ritter sẽ phản ứng thế nào với yêu cầu này. Thật ngạc nhiên, ông ta đã nhanh chóng đồng ý.


Tổng Giám mục vùng St. Louis, Joseph E. Ritter

Vậy là công cuộc trừ tà cho Robbie đã thật sự bắt đầu.





PHẦN II : TRỪ TÀ

Quá trình trừ tà đã bắt đầu tại nhà nguyện của nhà thờ St. Francis Xavier. Phần này của vụ việc là cực kì mơ hồ. Không rõ Robbie đã được trừ tà ở đó trong bao lâu, có lẽ khoảng một tháng. Sau đó, các thầy tu nhận ra rằng một mình họ thì khó mà xoay sở được với Robbie nên đã chuyển cậu tới cánh tâm thần cũ của tòa nhà bệnh viện Alexian Brothers, phía nam St. Louis. Nhà nguyện này sau đó đã bị tháo dỡ và xây dựng lại.


Nhà thờ St. Francis Xavier (màu trắng) nơi Robbie được trừ tà trước khi chuyển tới
Alexian Brothers. Kế bên đó là trường đại học St. Louis

Các sinh viên từng học tại đại học St. Louis đã truyền nhau những câu chuyện rằng, họ từng nghe thấy những âm thanh kì lạ phát ra từ nhà nguyện trong suốt thời gian Robbie ở đó. Họ cũng nghe thoang thoảng những mùi hôi thúi độc hại phát ra từ các cửa sổ. Có lẽ, việc nhà nguyện đã gây nhiều sự chú ý chính là một phần lý do tại sao Robbie được chuyển tới bệnh viện Alexian Brothers. Cũng có thể đây chỉ đơn giản là các truyền thuyết xoay quanh vụ việc, không biết chắc được.

Cũng không rõ có bao nhiêu người đã thật sự dính dáng tới vụ trừ tà. Tên của các tu sĩ trừ tà được nhắc đến ở St. Louis là cha Bowdern, giám mục Raymond và cha Lawrence Kenny. Cha Charles O'Hara của đại học Marquette ở Milwaukee cũng hiện diện như là một nhân chứng (ông là người về sau đã kể lại những gì mình nhìn thấy ở đó cho cha Eugene Gallagher ở Georgetown). Và chắc chắc, nhiều nhân viên bệnh viện và các sinh viên chủng viện cũng tham gia.

Một trong các sinh viên đó chính là Walter Halloran, vị tu sĩ đã trao cuốn nhật kí 26 trang cho Thomas Allen. Lúc bấy giờ ông là một cựu cầu thủ bóng đá có thân hình lực lưỡng, được nhờ theo để giúp giữ chặt Robbie. Các vụ trừ tà nổi tiếng là thường có các nghi thức dữ dội, và các tu sĩ Dòng Tên chắc hẳn cảm thấy rằng Halloran sẽ rất hữu ích. Nhưng vì lí do nào đó, Halloran đã rút khỏi vụ trừ tà khoảng một tuần trước khi nó đi tới hồi kết, khiến cho nguồn thông tin từ ông khá thiếu sót.


Cha Walter Halloran từng tham gia vào vụ trừ tà lúc còn là sinh viên chủng viện

Và trong khi các câu chuyện mà Halloran kể về vụ việc thường chắp vá, mơ hồ và mâu thuẫn, thì những nhân viên bệnh viện Alexian Brothers vẫn nhớ rõ các biến cố cùng với nỗi sợ hãi. Steve Erdmann, người từng viết bài về vụ ám này vào 1975, có quen biết với ít nhất một trong số các y tá có liên quan. Tên của y tá đó là Ernest Schaffer và người này đã hầu như không thể nói về vụ việc trong hơn hai thập kỉ sau đó. Schaffer cho biết các tu sĩ đã có “một thời gian vất vả” trong suốt giai đoạn mà Robbie nhập viện. Ông đã nhiều lần đối thoại với các tu sĩ và tin rằng những gì mình thấy thật sự có nguồn gốc siêu nhiên. Ông nói mình đã có vài lần dọn dẹp các bãi ói trong phòng của cậu bé.

Cũng có lần lễ trừ tà diễn ra ở nhà người họ hàng của Robbie. Các tu sĩ tới vào lúc khuya và sau khi Robbie đã ngủ thì nghi thức bắt đầu. Người ta nói Robbie rơi vào trạng thái như bị thôi miên, giường của cậu rung lên, các vết hằn sưng và trầy xước xuất hiện trên người cậu bé. Cha giám mục đã lau máu rỉ ra từ các vết xước đó trong khi Halloran cố gắng đè cậu xuống. Trừ tà là một cuộc giằng co khốc liệt về thể chất lẫn tinh thần. Con quỷ đang chiếm hữu nạn nhân cũng cố đánh sụp đức tin của các tu sĩ tham gia như trong vụ ám đã xảy ra trước đó vào năm 1928 ở Iowa. Cha Bowdern đã chuẩn bị sẵn bánh mì, nước và đồ ăn chay cho các biến cố tận sức. Người ta nói kể từ lần đầu tiên ông biết được cảnh ngộ của Robbie cho tới khi việc trừ tà chấm dứt, Bowdern đã sụt gần 40 pound.

Khi mọi người bắt đầu cầu nguyện để ra lệnh cho ác linh rời đi, Robbie thình lình nhăn mặt và quằn quại trong đau đớn. Hơn hai tiếng đồng hồ tiếp theo đó, cậu bé đã bị cào, bị khắc 30 lần trên bụng, ngực, cổ họng, đùi, bắp chân và lưng. Khi Bowdern yêu cầu con quỷ xưng danh, hai từ "WELL" và "SPITE" xuất hiện trên ngực cậu bé. Một lần khác, chữ "HELL" sưng đỏ xuất hiện khi cậu gập người về trước rồi cong ra sau một cách đầy đau đớn. Và suốt khoảng thời gian đó, cậu liên tục nguyền rủa và la hét những lời tục tĩu bằng một giọng "từ rất cao đến rất trầm". Lần đó nghi thức đã kết thúc lúc gần bình minh nhưng không có tiến triển gì nhiều.

Thử thách vẫn tiếp tục trong nhiều tuần và qua nhiều lần đọc tụng nghi thức. Theo các nhân chứng kể lại, phản ứng của cậu bé ngày càng trở nên dữ dội và rùng rợn hơn. Cậu đã nói chuyện bằng tiếng Latin xen giữa những lần la hét và nguyền rủa. Cậu nhổ vào mặt các linh mục đang quỳ và đứng cạnh giường, nước miếng và chất ói của cậu bay trúng họ từ khoảng cách rất xa và chính xác một cách kì quái. Cậu đấm và tát các linh mục và nhân chứng. Cậu liên tục tiểu tiện và ợ ra một mùi mà theo các nhân chứng là thúi không thể tưởng tượng nổi. Cậu cũng chửi bới các linh mục và đối chất với họ bằng những thông tin về chính họ mà lẽ ra cậu không thể nào biết được. Cơ thể cậu giẫy giụa và quằn quại thành những hình dáng tư thế dường như không thể nào làm được. Mọi thứ cứ tiếp diễn như vậy trong suốt buổi đêm. Tuy nhiên vào buổi sáng, cậu lại trở nên khá bình thường và thú nhận rằng, mình không hề nhờ gì về những biến cố đã xảy ra tối trước đó. Robbie thường trải qua thời gian ban ngày để đọc truyện tranh và chơi cờ với các sinh viên trợ lý.

Cha O'Hara có kể với cha Gallagher một điều thậm chí còn lạ lùng hơn. "Có một đêm, cậu bé gỡ ra được mấy cái còng”, O'Hara thuật lại, “và bay vụt qua không trung về phía cha Bowdern, lúc đó đang đứng cách giường một khoảng và đang cầm cuốn sách nghi thức trong tay. Cứ tưởng Bowdern sắp bị tấn công, nhưng cậu bé lại chỉ hướng tới cuốn sách. Và khi tay cậu chạm vào nó - tôi cam đoan với anh, Gene, chính mắt tôi nhìn thấy – cậu ta không hề xé cuốn sách, cậu ta làm nó tan nát ra! Cuốn sách hóa thành bông giấy và rớt từng mảnh nhỏ xuống sàn nhà!"

Nghi thức vẫn tiếp tục với lời cầu nguyện được lặp lại mỗi ngày, bất chấp phản ứng điên dại của Robbie với chúng. Việc trừ tà dường như vô ích, bởi vậy các linh mục xin phép cho Robbie cải qua đạo Công giáo. Họ cảm thấy rằng việc cải đạo sẽ giúp họ có thêm sức để chiến đấu chống lại thực thể đang điều khiển cậu bé. Cha mẹ cậu đã ưng thuận và cậu bé được chuẩn bị cho lần hiệp thông đầu tiên.

Trong thời gian học giáo lý, Robbie dường như khá trầm tĩnh. Cậu được chuyển tới cánh tâm thần của bệnh viện Alexian Brothers. Cậu dường như cũng thích các bài học về tín ngưỡng Công Giáo, nhưng thời gian thanh bình này sẽ không kéo dài lâu. Khi Robbie chuẩn bị nhận hiệp thông, các linh mục đã phải lôi cậu vào trong nhà thờ theo đúng nghĩa đen. Cậu bé cố thoát ra một cách điên cuồng mà các vị tu sĩ chưa từng thấy.

Gia đình đã kiệt sức và đã sẵn sàng để từ bỏ.

Cha Bowdern bắt đầu tìm kiếm một hướng tiếp cận mới, ông sắp xếp để đưa Robbie quay về Maryland và tiếp tục nghi thức. Người ta nói rằng trong suốt chuyến hành trình trên xe lửa, Robbie trở nên điên dại và đánh vào tinh hoàn của Bowdern. Cậu la hét rằng “cú đó làm dập hai hòn của mày rồi, phải không?” Những người khác có mặt ở đó đã vật lộn với Robbie cho tới khi cậu ta ngủ thiếp đi.

Bowdern không tìm được nơi ăn chốn ở để tiếp tục trừ tà cho Robbie ở Maryland. Không ai muốn dính dáng gì tới cậu bé. Ông đành phải đưa cậu quay lại St. Louis. Việc dạy giáo lý Công Giáo cho Robbie vẫn tiếp tục. Bấy giờ đang là Tuần Thánh, là tuần trước lễ Phục Sinh, Robbie được đưa tới Nhà Trắng, một khu an dưỡng nhìn ra con sông Mississippi nơi dành cho các tu sĩ Dòng Tên về hưu (không phải nhà trắng của tổng thống). Khi họ đang tản bộ trên đường Thập Giá ở phía ngoài, Robbie thình lình trở nên căng thẳng và bị kích động. Cậu chạy khỏi các tu sĩ và lao mình thẳng tới các dốc đứng phía con sông. Halloran, sinh viên chủng viện, đã lao theo và khuất phục được cậu. Không lâu sau họ đưa cậu về lại bệnh viện.

Việc trừ tà giờ đã lâm vào bế tắc. Để tìm kiếm giải pháp, Bowdern lại đắm chìm trong các văn bản liên quan tới quỷ ám. Ông tìm được một ca tương tự với trường hợp của Robbie xảy ra vào năm 1870 ở Wisconsin. Và ông đã nghĩ ra một chiến lược mới. Vào một đêm của ngày 18 tháng tư, nghi thức lại tiếp tục. Bowdern ép buộc Robbie phải đeo một xâu chuỗi có các mề đay tôn giáo và cầm một thánh giá trong tay. Thình lình, Robbie tỏ ra ăn năn một cách khó hiểu và bắt đầu hỏi về ý nghĩa của các lời kinh nguyện tiếng Latin. Dù vậy Bowdern ngó lơ cậu, từ chối tham gia vào cuộc đối thoại với thực thể. Thay vào đó ông yêu cầu được biết tên của nó và khi nào nó rời đi.

Robbie bùng lên cơn thịnh nộ. Năm nhân chứng đè cậu xuống trong khi cậu la hét rằng mình là một “thiên thần sa ngã”. Nhưng Bowdern vẫn tiếp tục nghi thức. Ông lặp đi lặp lại các lời kinh liên tục trong nhiều giờ. Bỗng nhiên, Robbie ngắt lời ông bằng một giọng nói lớn và nam tính, tự nhận mình là “Tổng lãnh Thiên Thần St. Michael ". Giọng nói ra lệnh cho con quỷ rời đi. Cơ thể Robbie trở nên quằn quại và co giật dữ dội. Rồi, cậu rơi vào im lặng. Một lúc sau, cậu ngồi dậy, mỉm cười và nói bằng một giọng bình thường “Hắn đi rồi”. Sau đó Robbie kể cho các linh mục rằng cậu đã nhìn thấy St. Michael đang cầm một thanh kiếm lửa.

Việc trừ tà cuối cùng đã kết thúc.

Nhưng thứ gì đã nhập vào Robbie Doe? Nhiều người tin rằng Robbie có lẽ đã ngụy tạo toàn bộ câu chuyện. Mark Opsasnick đã nghiên cứu về tuổi thơ rắc rối của cậu bé, ông cảm thấy rằng có thể cậu đã bắt đầu sự việc chỉ nhằm thu hút chú ý, hoặc để được nghỉ học, nhưng mọi chuyện cứ lớn dần trở thành mớ hỗn độn như chúng ta thấy. Opsasnick đã điều tra rất kỹ lưỡng những giai đoạn đầu của vụ ám, tìm ra được nhiều điểm có liên quan về tuổi thơ của Robbie cũng như các thiếu sót trong tiến trình của sự việc. Nhưng ông ta đã hấp tấp gạt bỏ một số điều kì lạ đã diễn ra trước mắt nhiều nhân chứng. Bản báo cáo của ông hoàn toàn không hề đào sâu vào các biến cố đã xảy ra ở St. Louis và bằng cách này, ông ta đã bỏ qua mọi thứ đã xảy ra nhưng lại quá khó để giải thích.


Mark Opsasnick, nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều lời giải thích cho vụ ám

Cũng có những giả thuyết khác. Vài người tin rằng Robbie không hề bị ám mà bị quấy rầy bởi một xáo trộn siêu nhiên không thể giải thích khác. Lúc nãy tôi có đề cập về các hoạt động “yêu tinh”và cách mà thỉnh thoảng nó gắn liền với những trẻ vị thành niên. Trong khi các bác sĩ y khoa không để tâm đến giả thuyết này thì một vài nhà khoa học liều lĩnh hơn miễn cưỡng biện bạch rằng, có lẽ tâm trí con người có những khả năng và năng lượng vẫn còn chưa được khám phá. Những năng lượng này có thể làm đồ vật di chuyển, các chữ viết xuất hiện và giường rung lắc. Nếu điều này là thật, nó có thể giải thích cho những gì đã xảy ra với Robbie Doe. Nếu vậy thì đây hóa ra đúng với giả thuyết của Mục Sư Tin Lành Schulze về những gì đã xảy ra ở tại Maryland.

Tuy nhiên nhiều người vẫn nhất quyết không tin vào tấc cả chuyện này. Không có gì lạ khi mà sự hoài nghi lan tràn kinh khủng mỗi khi nhắc tới "Vụ Trừ Tà St. Louis ". Nhiều người cho rằng Robbie chỉ bị bệnh tâm thần chứ không hề có quỷ ám nào hết. Có lẽ cậu đã bị ảo giác hoặc mắc một bệnh thần kinh lạ nào đó khiến cho cậu hành xử kì quái, chửi bới la hét và quằn quại quá dữ dội như vậy.

Xin lưu ý là những người nào cho rằng chuyện này chỉ đơn giản là một trò lừa hoặc một chứng bệnh tâm thần, tấc cả họ đều hoàn toàn không liên can gì tới vụ việc. Quan điểm của các thầy tu, sinh viên, các nhân viên bệnh viện Alexian Brothers và những người đã hiện diện khi các biến cố xảy ra phải được xem xét và công nhận, hơn là những kẻ chỉ suy đoán mà thậm chí còn chưa được sinh ra vào năm 1949.

Bên cạnh những hoài nghi như vậy, vẫn có nhiều người đã (và đang) tin rằng các biến cố đều là thật. Họ không có lời giải thích nào cho những gì đã xảy ra vào 1949 – và kí ức về các biến cố đó vẫn còn in đậm cho đến ngày nay.





PHẦN III : SAU KHI TRỪ TÀ

Robbie rời St. Louis cùng với cha mẹ mình 12 ngày sau đó để trở về Maryland. Cậu đã viết thư cho cha Bowdern vào tháng năm 1949 nói rằng cậu đang hạnh phúc và có một con chó mới. Robbie đã trở lại là một cậu bé bình thường như mọi cậu bé Mỹ khác của những năm cuối thập niên 1940. Dù có tin vào chyện ma theo quỷ ám hay không, hầu hết các bạn có lẽ đồng ý rằng có “thứ gì đó” rất kì lạ đã xảy ra cho cậu bé vào 1949. Nếu bạn tin rằng Robbie đã ngụy tạo mọi thứ, hãy xem xét những tổn thương mà cậu bé đã trải qua khi trò đùa đi quá xa, cậu đã trở thành đối tượng của một vụ trừ tà, mà chắc chắc không phải là một trải nghiệm dễ chịu.

Còn nếu bạn tin rằng cậu thật sự bị ám, hay thậm chí là bệnh tâm thần, thì chúng ta phải coi Robbie là nạn nhân của một điều rùng rợn không thể giải thích nỗi. Người duy nhất biết những gì đã xảy ra trong suốt mùa đông xuân khủng khiếp đó là chính bản thân Robbie, nhưng cậu chưa bao giờ nhắc lại nó nữa. Người nào cố khơi gợi lại kí ức đó sớm nhận ra rằng, cậu chỉ còn lại những mẫu trí nhớ mịt mờ về những gì đã xảy ra.

Robbie tiếp tục theo học ở một trường trung học Công Giáo và vẫn là tín đồ mộ đạo cho tới ngày nay. Cậu bé của năm 1949 về sau đã kết hôn và nuôi nấng ba đứa trẻ. Theo năm tháng, nhiều lời đồn đại đã xuất hiện xoay quanh người đàn ông bất hạnh này, từ chuyện ông đã định tự tử cho với việc ông từng là phi công của hãng Hàng Không Hoa Kì. Tấc cả những gì tôi có thể nói là, sau một chút nỗ lực tìm kiếm, tôi đã biết được danh tính thật của “Robbie Doe”. Tuy nhiên để có được thông tin đó, tôi đã phải hứa rằng sẽ không bao giờ tiết lộ ông là ai, hay hiện đang sống ở đâu. Tôi chỉ nói là ông không còn gặp bất kì hiện tượng siêu nhiên nào xảy ra trong cuộc đời của mình nữa. Ông hiện vẫn còn sống ở vùng Washington D.C. (lưu ý bài viết này là từ năm 2006)

Cha Bowdern cho tới cuối cuộc đời của mình vẫn tin tưởng rằng, ông và các tu sĩ đồng đạo đã cùng chiến đấu với một thực thể ma quỷ. Những người ủng hộ ông vẫn kiên định rằng đã có nhiều nhân chứng cho các biến cố siên nhiên đã diễn ra, và không thể nào đưa ra được lời giải thích cho những gì mình thấy. Một bản báo cáo đầy đủ được Nhà Thờ Công Giáo lập thành hồ sơ lưu trữ đã tuyên bố rằng, trường hợp của Robbie Doe là một ca "quỷ ám thật sự". Theo cha John Nicola, người có cơ hội duyệt qua bản báo cáo, có 41 người đã kí tên vào một tài liệu xác nhận đã chứng kiến hiện tượng siêu nhiên trong vụ ám này.

Lần duy nhất đề cập đến vụ trừ tà là một bài đăng trên tờ Catholic Review, một xuất phẩm bán chính thức của nhà thờ, số đăng ngày 19 tháng 8 năm 1949. Tổng Giám mục Joseph E. Ritter của St. Louis đã chỉ định một giáo sư Dòng Tên để dẫn dắt một cuộc điều tra, nhưng kết quả chưa bao giờ được công khai. Ritter đã yêu cầu các thuộc cấp của mình ngưng nói về vụ việc sau khi nhận được bản báo cáo bởi vì, theo như nguồn tin, "Không phải là họ muốn giấu diếm điều gì. Chỉ là họ cảm thấy rằng hiệu ứng tổng thể của chuyện này có thể là tiêu cực."

Như đã nói, cha Bowdern chưa từng công khai nói về vụ trừ tà. Vừa để bảo vệ sự riêng tư của Robbie và cũng vì ông cảm thấy không ổn nếu làm thế. Như ông có nói với cha Walter Halloran: "Phát biểu một câu về vụ việc thôi, anh sẽ thấy có cả một đám người muốn hủy hoại nó, và anh cũng có một nhóm khác muốn biến nó thành một vụ trừ tà thật sự. Ta không nghĩ họ (các giới chức Nhà Thờ) sẽ nói một lời nào về nó. Ta nghĩ họ sẽ không bao giờ nói gì dù cho đó có phải là quỷ ám thật hay không. Anh biết, ta biết, vậy là được. Chúng ta đã ở đó."

Cha Bowdern đã đem sự thật của vụ trừ tà theo mình xuống đáy mồ. Ông vẫn làm linh mục ở Xavier cho tới 1956, rồi tiếp tục chuyển qua các chức vụ khác, chấm dứt sự nghiệp của mình tại Ours of Xavier. Và trong khi ông không hề nói về những gì đã diễn ra năm 1949, có nhiều lời đồn rằng có thể ông đã thực hiện một vụ trừ tà khác trước khi về hưu. Tháng 6 năm 1950, giám mục tại Stuebenville, Ohio, đã để ý đến vụ trừ tà ở St. Louis 1949, ông viết thư cho Tổng Giám mục Ritter nhờ giúp đỡ. Vị giám mục vùng Ohio nói rằng ở các giáo phận Stuebenville có một cậu thanh niên hay tấn công các tu sĩ và sơ, người ta tin rằng cậu có thể cậu đã bị ám. Ritter thông qua vị chưởng ấn đã nhờ Bowdern xem xét vụ việc nhưng không có thông tin nào thêm về những gì có thể đã xảy ra tiếp theo. Cha Bowdern qua đời năm 1983 thọ 86 tuổi.


Cha Bowdern lúc cuối đời

Cha giám mục Raymond sau 22 năm ở đại học St, Louis đã được gởi tới đại học Creighton University ở Omaha, bang Nebraska. Ông dạy ở đây thêm 20 nữa thì mất năm 1978, thọ 72 tuổi.

Cha Walter Halloran về sau này đã trở thành linh mục trợ lý tại Thánh Đường St. Joseph ở San Diego, bang California. Ông là sinh viên chủng viện duy nhất có mặt trong suốt thời gian các buổi trừ tà diễn ra, từ những buổi ở tại nhà nguyện St. Francis Xavier và tại bệnh viện Alexian Brothers, nhưng lại vắng mặt trong giai đoạn cực điểm của các biến cố tại nhà an dưỡng White House. Các tuyên bố của ông về vụ trừ tà đã xung đột nhau qua nhiều năm. Mặt khác, ông tuyên bố mình không bị thuyết phục rằng Robbie đã bộc lộ bất kì sức mạnh siêu nhiên nào trong lúc cậu “bị ám”. Ông đã bị cậu bé đấm vài lần và tin rằng đó không có gì hơn là sự kích động của tuổi trẻ mà thôi. Ông cũng không nhớ cậu bé có nói những ngoại ngữ nào khác ngoài tiếng Latin, mà có thể cậu đã nghe và bắt chước khi các linh mục đọc tụng. Điều này trái ngược hoàn toàn với những báo cáo khác, bao gồm cả của cha giám mục Raymond và cha Bowdern.

Có lẽ vì những dự tính gì đó mà về sau Halloran đã đảo ngược một số bình luận của mình. Sau này ông có nói với một phòng viên rằng, mình chưa phải là chuyên gia trong lĩnh vực này để có thể xác định đó đúng thật sự là một vụ quỷ ám hay không, nhưng ông tin rằng đó là thật. “Tôi luôn luôn nghĩ trong đầu mình như vậy”, ông nói. Thêm nữa, khi được phỏng vấn trong một chương trình của kênh radio nổi tiếng St. Louis Dave Glover, Halloran đã bác bỏ ý kiến cho rằng, giống như trong phim, Robbie đã từng bay lên khỏi giường. Trong khi, chính ông đã bổ sung chuyện đó trong một số dịp, rằng chiếc giường sắt mà Robbie đang nằm đã thật sự bay lên khỏi sàn nhà.





PHẦN IV : ĐI VÀO LỊCH SỬ

Cộng đồng các tu sĩ Dòng Tên vì tôn trọng Bowdern và Tổng giám mục Ritter đã giữ bí mật về vụ trừ tà, tuy nhiên Mục sư Tin Lành Schulze ở Maryland không có trách nhiệm phải như vậy. Rất sớm sau khi gia đình trở về nhà vào tháng tư, Schulze đã để ý rằng họ không còn đến nhà thờ của ông và các Chủ Nhật nữa. Ông ghé qua để thăm họ và biết rằng Robbie đã cải qua đạo Công Giáo, và cha mẹ cậu cũng đang định nối bước. Dường như Schulze cảm thấy rằng việc cải đạo khiến ông không còn mối quan hệ tín cẩn với gia đình nữa. Bởi vậy vào ngày 9 tháng 8, trong một cuộc họp của Hiệp hội Cận Tâm lý học chi nhánh Washington, D.C., Schulze đã nói rằng mình từng chứng kiến một “yêu tinh” trong nhà của "ông bà John Doe", hiện đang sống ở ngoại ô Washington. Schulze đã dùng tên thật của Robbie và kể cho họ nghe về những hiện tượng quái lạ mà ông đã nhìn thấy tại nhà mình. Ông cũng nói thêm rằng cậu bé sau đó đã được đưa tới một thành phố ở vùng trung tây nhưng không nói gì về vụ trừ tà, do ông không có thông tin chính xác nào.

Tuy nhiên bằng cách nào đó bí mật vẫn bị rò rỉ ra ngoài. Tin tức về một yêu tinh tràn ngập trên báo chí và Schulze rất sẵn lòng trả lời các bài phỏng vấn. Không bài viết nào có đề cập tới vụ trừ tà để giữ bí mật các danh tính. Nhưng không biết tại sao, ai đó đã xào nấu các chi tiết từ cuộc họp mà Schulze đã tham dự và viết rằng, có ba buổi trừ tà đã diễn ra tại thành phố trung tây. Ý tưởng về một vụ trừ tà quá hấp dẫn báo giới tới mức, câu chuyện về yêu tinh đã bị cho chìm xuồng và thay bằng những câu chuyện về trừ tà. Các phóng viên bắt đầu gọi điện cho các nguồn tin ở tổng giáo phận tại Washington để lấy tin và bắt đầu một chuỗi các sự kiện. Người phát ngôn của Tổng giám mục O'Boyle ở Washington đã từ chối cung cấp bất kì thông tin nào cho báo chí, nhưng như đã nói, các chi tiết cuối cùng vẫn bị rò rỉ trên tờ Catholic Review, một tờ báo được xuất bản toàn quốc. Trên số ra ngày 19 tháng 8, một câu chuyện dài ba đoạn văn đã viết như sau:

"Một cậu bé 14 tuổi ở Washington có tiền sử bị quỷ nhập đã được báo chí đưa tin rộng rãi hồi tuần rồi. Cậu đã được một linh mục trừ quỷ thành công sau khi gia nhập Nhà Thờ Công Giáo.
Vị linh mục đã nhất quyết từ chối thảo luận về vụ việc. Tuy nhiên được biết rằng, đã có nhiều nỗ lực để giải phóng cậu bé khỏi những điều dị thường.
Một linh mục Công Giáo đã được triệu gọi để giúp đỡ. Khi cậu bé bày tỏ nguyện vọng được gia nhập nhà thờ, được sự đồng ý của cha mẹ, cậu đã được giảng dạy giáo lý. Sau đó vị linh mục đã rửa tội cho cậu và đã thực hiện thành công nghi thức trừ tà. Cha mẹ của cậu bé tội nghiệp không phải người Công Giáo."


Khó hiểu là, vào thời điểm đó vụ ám đã không hề “được đưa tin rộng rãi”, bài báo sơ lượt đó dường như chỉ là một cố gắng của Nhà Thờ để kiểm soát câu chuyện. Nhưng hóa ra nó chỉ khuấy động thêm sự ham thích của báo chí Washington mà thôi. Jeremiah O'Leary, một trợ lý biên tập cho tờ Washington Star-News đã phát hiện ra bài báo đó và bắt đầu lần mò các thông tin. Sau này ông thừa nhận rằng đã gọi cho mọi linh mục mà mình biết để rồi cho xuất bản một bài báo ngắn, được in vào buổi chiều ngày 19 tháng 8 trong trang ruột của tờ báo. Qua hôm sau, tờ Washington Post đã đăng một bài dài và chi tiết về vụ trừ tà ngay trên trang nhất. Họ viết rằng một vụ trừ tà đã diễn ra ở cả Washington và St. Louis và được tiến hành bởi “một tu sĩ Dòng Tên khoảng 50 tuổi”. Tôi đã không thể nào tìm được bất kì bài báo nào tại thời điểm đó về vụ trừ tà trên báo chí St. Louis. Bí mật của vụ trừ tà cuối cùng đã xì ra.


Bài báo về vụ trừ tà đăng trên trang nhất tờ Washington Post
số ra ngày 20 tháng 8 năm 1949

Một trong những độc giả của các câu chuyện trên báo là William Peter Blatty, một sinh viên ở đại học Georgetown. Blatty khi đó là sinh viên năm cuối và có ý định trở thành linh mục Dòng Tên. Nhưng anh đã thành một nhà văn năm 1970 và bắt tay vào viết một cuốn sách dựa trên các câu chuyện mà anh nghe được về cuốn “nhật ký” trừ tà, cũng như các bài báo đọc được ở trường. Như đã nói trước đây, Blatty bằng cách nào đó đã lần ra được cha Bowdern khi anh đang nghiên cứu cho cuốn sách, nhưng vị tu sĩ Dòng Tên đã không muốn nói về vụ việc. Ông ta chỉ nói với anh rằng đúng vậy, có một cuốn nhật kí nhưng không thể giúp anh bởi vì lời hứa giữ bí mật, cũng như sợ rằng việc công khai thêm nữa có thể phá rối cuộc sống của Robbie, thậm chí là sau hơn hai thập kỉ đã trôi qua.


William Peter Blatty, tác giả cuốn tiểu thuyết best seller The Exorcist

“Những suy nghĩ của riêng ta”, Bowdern về sau có viết cho Blatty, "là nhiều điều tốt đẹp có thể sẽ đến nếu sự việc được công bố, người ta sẽ nhận ra rằng sự hiện diện của các hoạt động ma quỷ là thứ gì đó rất thật. Và có lẽ chưa bao giờ thật hơn lúc này… Ta có thể cam đoan với cậu một điều: Vụ việc mà ta đã dính líu là sự thật. Ngày đó ta đã không hề nghi ngờ, ngày nay ta vẫn không hề nghi ngờ."

Theo yêu cầu của Bowdern, Blatty đã tiểu thuyết hóa các sự kiện của vụ trừ tà. Và thực tế là anh đã thêm thắt nhiều yếu tố rùng rợn lấy từ vụ quỷ ám ở Iowa năm 1928 để hoàn thiện cuốn sách. Để che giấu thân phận của Robbie sâu hơn, anh đã đổi nạn nhân bị nhập thành một cô gái trẻ và chuyển toàn bộ diễn biến từ St. Louis tới Washington. Tuy nhiên, cha Merrin, nhân vật linh mục trừ tà trong cuốn sách vẫn mang đậm hình ảnh của William Bowdern. Năm 1971, cuốn sách của Blatty là The Exorcist đã được in và lập tức trở thành bestseller.


Cuốn tiểu thuyết The Exorcist xuất bản năm 1971 dựa trên vụ quỷ ám của Robbie





PHẦN V : MA QUỶ VẪN CÒN Ở ST. LOUIS

Sau khi Robbie đã rời bệnh viện Alexian Brothers, thầy dòng Rector Cornelius đi tới hành lang tầng năm của khu cánh cũ, mang một bức tượng của St. Michael ra khỏi phòng của Robbie, tra chìa khóa vào cửa và khóa căn phòng lại vĩnh viễn. Kể từ ngày đó trở đi, bệnh viện Alexian Brothers ở St. Louis mãi mãi gìn giữ những bí mật của vụ trừ tà. Sự tồn tại cuốn nhật kí của cha giám mục Raymond vẫn là một bí mật và một bản sao của nó đã được đặt bên trong căn phòng khi nó bị niêm phong.

Dù vậy mọi người làm việc ở bệnh viện điều biết tại sao căn phòng đó lại bị khóa. Nhiều năm sau vụ trừ tà, những người đã tham gia vào vụ việc hay những người làm việc tại bệnh viện đã kể cho nhau các câu chuyện, về những thứ xảy ra ở cánh tâm thần mà họ đã nghe và thấy được trong suốt những tuần lễ đầy thử thách đó. Những hộ lý kể về việc dọn dẹp các bãi ói và nước tiểu trong phòng của cậu bé. Các nhân viên và y tá nói rằng đã nghe thấy âm thanh của ai đó đang la hét và những tiếng cười ma quỷ vang vọng lại từ phòng của Robbie. Đặc biệt là, họ kể về những làn khí ớn lạnh dường như tỏa ra từ căn phòng. Dù cho cả tòa nhà bệnh viện có ấm áp thế nào, khu vực xuanh quanh cánh cửa phòng cậu bé luôn luôn lạnh băng.

Và thậm chí sau khi vụ trừ tà kết thúc, có thứ gì đó dường như vẫn còn lại ở đằng sau. Nó là tàn dư của thực thể đã ám Robbie hay có lẽ chỉ là nỗi ám ảnh về những biến cố khủng khiếp từng xảy ra trong căn phòng? Dù là gì đi nữa, căn phòng đã không bao giờ được mở trở lại. Các vấn đề về điện gây phiền hà cho các phòng xunh quanh và hành lang phía ngoài cánh cửa phòng đặc biệt này luôn luôn lạnh. Toàn bộ khu vực này của bệnh viện đã dần dần bị đóng, nhưng không biết có phải do “căn phòng quỷ ám” này hay không.


Bệnh viện Alexian Brothers nơi những buổi trừ tà đã diễn ra. Nhiều câu chuyện ma quỷ
vẫn còn đeo bám căn phòng mà Robbie từng trú ngụ

Nhiều năm tháng trôi qua, các câu chuyện về căn phòng khóa kín được truyền lại cho các thầy tu dòng mới đến phục vụ tại bệnh viện. Họ biết các căn phòng nằm ở khu cánh là dành cho những bệnh nhân tâm thần cực kì nặng, nhưng không hiểu tại sao có một phòng luôn bị khóa lại – cho tới khi họ nghe về những gì đã xảy ra ở đó. Các thầy dòng từng trong nhóm các nhân viên năm 1949 sẽ không dễ quên được những gì mà họ đã nghe và thấy.

Những người khác ở Alexian cũng có các câu chuyện riêng để kể - về tiếng đập mạnh lên các cánh cửa vào ban đêm, giọng nói kêu gọi từ các hành lang tăm tối, và nhiều nữa. Các nhân viên sẽ còn tiếp tục các câu chuyện trong những năm tới. Và cá nhân tôi đã nói chuyện với hơn một tá hộ lý, nhân viên bảo trì, y tá và bác sĩ, những người có các kí ước hằn sâu và tăm tối về khu cánh cũ và về căn phòng bị khóa trên tầng của khu tâm thần. Vài người trong số họ đã nói với tôi rằng thỉnh thoảng – thậm chí sau bao nhiêu năm đã qua – họ vẫn mơ thấy khu cánh và cái cửa bị khóa đó.

Tháng 5 năm 1976, việc xây dựng mới bệnh viện Alexian Brothers đã khởi công và đang ở giai đoạn đầu tiên, một vài phần của tòa nhà bị phá hủy và một tháp cao 6 tầng với các khu cánh 2 tầng đã được xây lên. Đến tháng 10 năm 1978, các bệnh nhân được chuyển ra khỏi tòa nhà cũ, toàn bộ cấu trúc sau đó đã được tháo dỡ hoàn toàn, nhưng không phải hoàn toàn êm thắm. Các công nhân của đội tháo dỡ cho biết đã không thể điều khiển được trái cầu sắt sau khi phá hủy tầng lầu đó. Trái cầu cứ đong đưa và trúng vào một phần của tòa nhà mới nhưng may mắn là không có hư hại gì. Câu chuyện này dường như đã góp thêm phần khiến cho các huyền thoại về căn phòng ngày càng đi xa hơn.

Trước khi quá trình tháo dỡ bắt đầu, các công nhân đã dọn đồ nội thất trong tòa nhà ra ngoài để bán. Một công nhân tìm thấy một căn phòng khóa kín ở cánh tâm thần và đã phá cửa vào. Bên trong phòng, anh thấy một cái giường, một tủ nhỏ, vài cái ghế với một chiếc bàn có một ngăn kéo duy nhất, tấc cả đều phủ đầy bụi bặm. Trước khi khiêng cái bàn đi, người công nhân tò mò mở ngăn kéo ra và tìm thấy một xấp giấy nhỏ bên trong. Không một ai kể cả anh công nhân biết được làm thế nào và tại sao xấp văn bản đó lại ở trong ngăn kéo tại một căn phòng vốn đã bị khóa từ hồi năm 1949.

Những đồ nội thất gồm tấc cả các món trong căn phòng bị niêm phong đã được bán cho một công ty, công ty này có sở hữu một viện dưỡng lão cách bệnh viện Alexian Brothers không xa. Tấc cả đồ đạc mua được từ bệnh viện đã được khóa lại trong một căn phòng trên tầng bốn của viện dưỡng lão và chưa bao giờ được sử dụng. Về sau chính viện dưỡng lão này cũng bị phá dỡ. Nhiều công nhân, nhân viên của viện và các giám sát viên thành phố tham gia trong quá trình tháo dỡ đã từ chối đi lên tầng 4 – và không thể giải thích được tại sao. Không ai biết số phận của những món đồ trong căn phòng bị khóa ra sao.

Hoặc ít nhất đó là một phiên bản của câu chuyện...

Trong những năm gần đây, một phiên bản khác kì lạ hơn của câu chuyện về số phận các món đồ bên trong căn phòng đã được đưa ra ánh sáng. Theo các nguồn tin, nội thất dọn ra từ căn phòng bị khóa lúc tháo dỡ chưa hề được bán cho viện dưỡng lão. Thay vào đó, giường, tủ, ghế và bàn đã được khóa lại trong tầng hầm của một nhà nguyện ở St. Louis. Nhiều năm sau, nhà nguyện được lên kế hoạch tháo dỡ, những công nhân vận chuyển được gọi tới để dọn nhiều đồ đạc bị bỏ lại trong tầng hầm. Một công nhân trong số đó kể lại, anh tới nhà nguyện cùng các đồng nghiệp khác và được dẫn xuống tầng hầm bởi một linh mục. Ông ta mở khóa một căn phòng để các công nhân đi vào. Tuy nhiên, các công nhân đều nhớ rõ, vị linh đã không hề đặt một bước chân vào bên trong.

Bên trong căn phòng, các công nhân tìm thấy vài món nội thất. Họ được hướng dẫn chuyển chúng ra ngoài và đóng vào trong một cái thùng gỗ. Sau đó, cái thùng được chở đến để trong một kho lữu trữ và khóa lại. Nhà kho đó nằm gần đối diện cổng doanh trại Không Lực Scott ở Illinois. Theo câu chuyện của người công nhân đó, những nội thất từ "Phòng Trừ Tà" vẫn còn ở đó, bị niêm phong trong một thùng gỗ và hầu như quên lãng.

Tuy nhiên, xấp giấy mà anh công nhân tìm thấy trong căn phòng thì còn lâu mới bị quên lãng. Chúng trông giống như một bản báo cáo hay nhật kí gì đó, có một lá thư đính kèm theo để tên người nhận là một thầy dòng Cornelius nào đó và đề ngày là 29 tháng 4 năm 1949. Một đoạn trong đó viết: "Báo cáo đính kèm theo đây là một bản tóm tắt của vụ việc trong vài tuần qua mà thầy có lẽ đã biết. Vai trò của thầy trong vụ này quá quan trọng tới nỗi mà tôi nghĩ rằng thầy nên có một bản trong hồ sơ lưu trữ". Nó được kí tên bởi Cha Giám mục Raymond J., một tu sĩ Dòng Tên từ đại học St. Louis. Có thể thấy, thầy dòng Cornelius đã cho rằng bản ghi đó tốt nhất nên được giữ bí mật, bên trong căn phòng bị niêm phong.



Lá thư gởi cho thầy dòng Cornelius có chữ kí của giám mục Raymond J.

Anh công nhân đã đưa xấp giấy cho sếp của mình là chủ thầu phá dỡ, người này sau đó chuyển chúng lại cho viên quản trị bệnh viện, vốn là một người thế tục. Viên quản trị bối rối khi nhìn thấy lá thư nhưng vẫn quyết định lật qua các trang của cuốn nhật kí. Khi đọc qua nó, ông bắt đầu thấy những điểm liên hệ tới vụ trừ và nhận ra rằng, cuốn nhật kí này đã nói lên tấc cả bí mật của căn phòng bị khóa. Viên quản trị có cô con gái lúc đó đang theo học ở một trường thư kí và phụ giúp cho công việc trong văn phòng của cha mình. Bằng cách nào đó, cô đã đọc được xấp giấy và nhận ra cái tên "Walter Halloran" trong đó vì Halloran là chú của một người bạn cùng lớp với cô. Viên quản trị đã liên hệ với vị cựu sinh viên chủng viện mà nay đã là một linh mục Dòng Tên, và giao xấp giấy lại cho anh ta. Cuốn nhật kí về sau đã được khóa trong một két sắt an toàn nhưng trước đó có người đã tạo một bản photocopy. Đây chính là bản sao được phổ biến tới ngày nay, nó cung cấp cho chúng ta những thông tin ít ỏi và thường mơ hồ về vụ trừ tà năm 1949 (link toàn văn cuốn nhật ký này ở cuối bài).




Trang 1 của cuốn nhật kí trừ tà

Huyền thoại St. Louis tiếp tục được bổ sung thêm rằng, cuốn nhật kí chưa phải là thứ kì lạ nhất xảy ra khi căn phòng bị khóa được mở trở lại. Theo các công nhân tháo dỡ, họ đã thấy "thứ gì đó" hiện ra từ căn phòng ngay trước khi trái cầu sắt đập phá hủy nó. Người ta nói nó giống như một “con mèo hay chuột lớn gì đó”. Tôi sẽ không bình phẩm sinh vật đó có thể là gì, dị thường hay bình thường, tôi chỉ nói rằng huyền thoại về "Vụ Trừ Tà St. Louis" tiếp tục được bổ sung theo năm tháng.

Để kết bài, tôi sẽ không hỏi lại rằng các độc giả tin vào điều gì đã xảy ra ở in St. Louis năm 1949. Dù các bạn có tin vào ma quỷ, nhập hồn với trừ tà hay không thì vụ việc vẫn là bí ẩn. Không thể nào giải thích một cách thỏa đáng cho những điều dị thường được báo cáo trong vụ này nếu không buộc phải nói rằng, những người có dính líu đã nói láo, say xỉn hoặc mất trí. Còn với bản thân, tôi không thể nói rằng nhóc Robbie Doe có đúng là đã bị ám hay không, nhưng tôi có thể nói rằng đây là một trong số ít trường hợp “quỷ ám” đã để lại trong tôi nhiều câu hỏi mong manh.

Người đọc dĩ nhiên có thể có những suy nghĩ riêng. Nhưng đối với tác giả, well, tôi nghĩ rằng chắc chắn là có thứ gì đó trên thiên đàng và hạ giới này chưa được biết tới trong hệ thống triết học của chúng ta!





PHỤ LỤC : THÂN PHẬN CỦA ROBBIE DOE

Phần này là do tui (dammage) tìm hiểu và bổ sung thêm, không có trong bài gốc.

Cậu bé bị quỷ ám ở St. Louis năm 1949 được công chúng biết tới bằng nhiều mật danh khác nhau, Robbie Doe, Roland Doe, Ronald... Theo thời gian, nhiều người đã cất công nghiên cứu để cố khám phá ra danh tính thật sự. Có nguồn nói rằng tên thật của Robbie là Robbie Mannheim, nhưng một niềm tin phổ biến hơn cho rằng, Robbie chính là Ronald Edwin Hunkeler.

Thân thế của Ronald Edwin Hunkeler

Ronald Edwin Hunkeler sinh ngày 1 tháng 6 năm 1935, có mẹ theo đạo Tin Lành còn cha là Công giáo. Theo điều tra của Mark Opsasnick, gia đình cậu sống ở số 3807 40th Avenue ở Cottage City, bang Maryland. Họ đã sống ở đó kể từ 1939 cho tới khi ngôi nhà bị bán đi năm 1958.


Ngôi nhà số 3807 40th Avenue ở Cottage City, bang Maryland nơi gia đình Hunkeler
sinh sống. Hình chụp bởi nhà điều tra Mark Opsasnick

Thân thế của Ronald Edwin Hunkeler cũng được xác nhận bởi T. Weston Scott Jr., một cư dân đã sống ở Cottage City kể từ 1919 và là một lính cứu hỏa kì cựu. Ông đã phục vụ tại Sở Cứu Hỏa Colmar Manor-Cottage City suốt hơn 20 năm.

Mùa thu năm 1947, Hunkeler đã nhập học ở trường Trung học Bladensburg.

Vào 26 tháng 1 năm 1949, dì của Ronald qua đời ở tuổi 54 do bệnh đa xơ cứng. Trong cuốn nhật kí, người này được gọi là "dì Tillie” nhưng nhiều nguồn khác cũng gọi bà là Harriett. Bà là người cực thích thế giới tâm linh và đã giới thiệu cho Ronald cách xài bảng Ouija.

Cậu bị đuổi học vào giữa năm lớp tám tháng 1 năm 1949, nhưng đã được quay lại trường vào năm học 1949-1950. Từ mùa thu 1950 cho tới tháng 6 năm 1954 cậu theo học tại trường trung học Gonzaga ở Washington D.C.



Hình ảnh, tên tuổi, địa chỉ của Ronald Edwin Hunkeler trong sách niên khóa 1954
khi cậu theo học tại trường trung học Gonzaga

Ronald Edwin Hunkeler cũng được xác nhận là đã nhập viện ở Bệnh viện Đại học Georgetown bằng tên thật của mình. Cậu nhập viện sáng thứ hai, ngày 28 tháng 2 năm 1949 và xuất viện lúc 12 giờ trưa thứ năm ngày 3 tháng 3 năm 1949.


Ngôi nhà người bà con nơi Robbie tá túc khi cậu dọn tới St. Louis.
Một số buổi trừ tà đã được tiến hành tại đây

Sau khi trừ tà kết thúc, cậu theo học ở Trường trung học Gonzaga. Một số nguồn nói rằng về sau cậu đã làm việc cho NASA và có ba đứa con, nhưng không còn nhớ gì về các biến cố lúc bị nhập nữa. Hunkeler yêu cầu các tu sỹ và những người có liên can giữ kín thân thế của mình, nhưng chính các cuộc điều tra truy vết của Opsasnick cuối cùng đã đưa thân thế Hunkeler ra ánh sáng.


Tổng hợp và dịch bởi dammage

Nguồn:
https://www.prairieghosts.com/exorcist.html
https://haintblueshudders.wordpress.com/2017/05/29/the-real-diary-of-the-1949-exorcism-of-ronald/
http://www.lastgasps.com/page71.html
http://mikesbigblogorainydayfunexorcistkid.blogspot.com/
https://es.redskins.com/topic/386666-the-haunted-boy-of-cottage-city-aka-the-real-exorcist-story/
https://allthatsinteresting.com/roland-doe-the-exorcist-true-story
http://www.biblicalcatholic.com/apologetics/TrueStoryExorcist.htm
http://www.thescarystory.com/the-exorcism-of-roland-doe/
https://diabolicalconfusions.wordpress.com/2011/02/16/the-story-of-r-the-real-life-story-that-inspired-the-exorcist/
https://serialkillershop.com/blogs/horror/the-exorcist-true-story
http://altereddimensions.net/2016/ronald-hunkeler-exorcism-inspired-the-exorcist
https://www.google.com

Vui lòng ghi nguồn nếu có copy qua nơi khác
 
Sửa lần cuối:

dammage

Rìu Bạc
Thank you. Khá dài nhưng vẫn đọc vì khoái mấy cái này.
dài vì đây không phải 1 bài báo mà thực chất là bản trích dẫn tóm lượt cuốn sách đó bạn


để coi... hàng trăm tài liệu gồm sách, báo, các ghi chép, kết quả nghiên cứu, các hồ sơ bệnh viện, trường học, nhà thờ, các tư liệu, hình ảnh, abcxyz... được tóm gọn lại trong 1 cuốn sách
cuốn sách đó được tóm lượt trong bài viết gốc
bài gốc đó được tóm lượt trong topic này

nói chung là thông tin đã được siêu siêu nén rồi đó bạn
 
Top