[Mạng căn bản] Một số từ ngữ chuyên môn trong mạng viễn thông cho mọi người

contentteam

Buildcontent
#1

Chào các bạn! Lâu rồi mình cũng không viết được một bài nào hay cho forum, nay có chút thời gian mình xin đóng góp một bài. Như tiêu đề, bài này sẽ tập trung vào các khái niệm, từ ngữ căn bản của mạng viễn thông mà các bạn đang học IT hoặc dân tìm hiểu có thể đã hoặc chưa biết. Mục đích mình tạo ra bài này không phải là để cho dân quản trị mạng hay các bạn pro hơn mình rất nhiều, chỉ là những thứ căn bản để cho bất cứ ai đọc xong cũng sẽ hiểu thêm về mạng viễn thông (Networking). Mình cũng mong các bạn thông cảm là tất cả các định nghĩa sau sẽ không phải 100% đúng cho nên nếu mình có nói gì sai, hãy bình luận bên dưới, mình sẽ đọc và sửa đồi ngay lập tức.


Các từ ngữ sẽ không đi theo một thứ tự nào cho nên nếu bạn muốn tìm một từ thì bấm Ctrl + F và điền từ muốn tìm vào. Lưu ý là một số từ sẽ sử dụng các từ ngữ chuyên môn khác. Mình luôn luôn đảm bảo rằng nếu nó có từ ngữ chuyên môn, bạn có thể Ctrl + F để tìm hiều về từ ngữ đó!


Khái niệm cơ bản về LAN:

Automatic Private IP Addressing (APIPA): Cấp cho bạn một địa chỉ IP offline trong trong trường hợp DHCP không hoạt động. APIPA rất hữu dụng khi các bạn kết nối hai máy tính với nhau qua một dây mạng duy nhất và cần trao đổi dữ liệu bằng cách sử dụng Crossover cable hoặc mạng không dây.

Bridge: Dịch ra tiếng Việt nghĩa là cái cầu nhưng trong ngành CNTT, bridge ám chỉ việc bạn dùng một hệ thống để kết nối 2 mạng LAN vào với nhau hay hai hệ thống mạng khác nhau ví dụ như kết nối hệ thống mạng dây với hệ thống mạng không dây.

Coaxial cable: Tên tiếng anh nhưng lại rất quen thuộc. Đây chính là dây cắm vào tivi nhà bạn hoặc cắm vào modem để chuyển tín hiệu tivi sang tín hiệu kỹ thuật số.

Crossover cable: Dây mạng đã được thay đổi một chút bên trong, dùng để kết nối 2 máy tính với nhau qua cổng mạng như bình thường. Không dùng dây này để kết nối đến mạng Internet.

DNS server: DNS viết tắt của Domain Name System, một hệ thống dùng cho việc đặt tên cho máy tính và các dịch vụ mạng mà đã được sắp xếp thành cấp bậc của tên miền. Hãy lấy danh bạ là một ví dụ. Nếu bạn là người bình thường mà không phải là siêu nhân, bạn sẽ không bao giờ nhớ được số điện thoại của tất cả mọi người bạn quen biết. Danh bạ sẽ thay thế bộ não của bạn ghi nhớ tất cả các số điện thoại đó và đặt tên của chủ nhân ngay bên cạnh. Giờ mỗi khi bạn gọi ai, cứ bấm vào tên người bạn cần gọi là điện thoại của bạn sẽ tự hiểu và quay số điện thoại của người bạn muốn gọi. DNS cũng giống như vậy. Khi bạn viết tên một website vào thanh URL, máy tính sẽ gửi thông tin đó đến DNS server và server sẽ đối chiếu tên URL đó với địa chỉ IP của website bạn muốn truy cập và gửi trả trình duyệt của bạn địa trỉ IP đó, và trình duyệt sẽ điều hướng bạn đến trang web đó.

Dynamic Host Configuration Protocol (DHCP): Giúp phân phát địa trỉ IP đến tất cả các máy tính trong một hệ thống. Thông thường, bạn có thể đặt địa trỉ IP bằng cách đi vào máy tính bạn cần và đặt địa trỉ IP một cách thủ công, tuy nhiên cách này có thể tốn rất nhiều thời gian. DHCP sẽ tự động phân phát địa chỉ IP đến máy tính (hoặc tất cả các thiết bị dùng mạng) ngay khi thiết bị đó kết nối với router nhà bạn hay nó gửi yêu cầu cấp địa trỉ IP. Địa chỉ IP được phân phát bằng DHCP sẽ được thay đổi sau một khoảng thời gian nhất định, không như địa chỉ tĩnh là không bao giờ thay đổi cho đến khi bạn động vào.

Fiber optic cable: Cáp quang. Thay vì dùng vì dùng dây kim loại (nhôm hoặc là đồng) như dây cáp phổ thông, cáp quang dùng ánh sáng để chuyền dữ liệu. Khá đắt đỏ.

Full-duplex: Khi một sợi dây cáp, dây mạng, dây điện thoại, hay bất cứ loại dây nào có thể cho phép thông tin di chuyển hai chiều đi và về thì gọi là full-duplex.

Internet Protocol version 4 (IPv4): Phiên bản được sử dụng rộng rãi đầu tiên của giao thức liên kết (Internet). Địa chỉ IP của phiên bản này là địa chỉ 32-bit, có nghĩa là số lượng địa chỉ có thể tạo ra là khoảng 4 tỷ địa chỉ.

Internet Protocol version 6 (IPv6): Phiên bản kế nhiệm cho IPv4 với một tác dụng to lớn duy nhất là giải quyết vấn đề số lượng địa chỉ IPv4 trên toàn thế giới đã cạn kiệt. Với việc nâng cấp lên thành 128-bit, số lương địa chỉ IP có thể tạo ra lên tới 3.400 tỷ tỷ tỷ tỷ địa chỉ (tương đương với 3,4 x 10^38 địa chỉ IP).

IP address: Một dãy số dùng để xác định danh tính của máy tính bạn. Máy tình muốn nói chuyện với nhau qua mạng viễn thông cần biết địa chỉ IP để trao đổi thông tin. Hãy tưởng tượng thông tin, dữ liệu di chuyển trong dây mạng như các kiện hàng hay bức thư. Khi bạn gửi một lá thư, bạn cần phải điền tên và địa chỉ người gửi, tên và địa chỉ người nhận đúng không? Máy tính cũng như vậy, trước khi nó gửi bất cứ thông tin gì, nó sẽ cho địa chỉ IP của nó rồi đến lượt địa chỉ IP của máy tính nó gửi đến. Router và Switch giống như bưu điện sẽ điều hướng dữ liệu đến đúng người máy tính bạn muốn gửi.

Ipconfig: Một lệnh trong Command Prompt giúp bạn có một biểu đồ sơ lược cũng như cái nhìn tổng thể về hệ thống mạng nhà bạn.

Loopback plug: Cái đầu của dây mạng được tùy chỉnh một tí để tạo thành một thiết bị kiểm tra NIC (Cạc mạng). Cắm cái này vào NIC để kiểm tra NIC có bị hỏng hay không. Tuyệt đối không cắm lung tung ở những nơi công cộng nếu bạn không biết mình đang làm gì!

Networked Attached Storage (NAS): Đơn giản nó cũng chỉ là một chiếc máy tính nếu nhìn từ bên ngoài. Tuy nhiên, bên trong nó có chứa nhiều ổ cứng dung lượng lớn và cạc mạng. Đây là thiết bị có nhiệm vụ như một kho chứa dữ liệu lớn và chuyên nghiệp cho các bạn muốn chứa dữ liệu lớn mà máy tính không thể đáp ứng.

Static IP address: Địa chỉ IP tĩnh. Địa chỉ IP được bạn cài đặt thủ công, không bao giờ thay đổi cho đến khi bạn thay đổi lại.

Subnet mask: Để nhận biết tầng lớp của địa chỉ IP (Cái từ này hơi khó giải thích sao cho ai cũng hiểu, bạn nó có thể định nghĩa tốt hơn hãy bình luận bên dưới)

Switch: Điều hướng dữ liệu dựa trên địa chỉ MAC của máy tính. Coi như bưu điện địa phương.

Router: Điều hướng dữ liệu dựa trên địa chỉ IP của máy tính. Coi như bưu điện tỉnh/thành phố.

MAC address: Địa chỉ vĩnh viễn của một thiết bị mạng, không thể thay đổi trừ phi can thiệp phần cứng. Được đặt trước bởi nhà sản xuất. Rất hữu dụng trong việc trao đổi thông tin giữa máy tính trong cùng một hệ thống. Cách hoạt động khá giống địa chỉ IP.

Phần này còn rất nhiều từ...

Các chuẩn Wi-Fi mà bạn nên biết:

Tính đến thời điểm viết bài này, chúng ta đang có tổng cộng sáu chuẩn Wi-Fi gồm có: a, b, g, n, ac, và ad. Tuy nhiên, do chuẩn ad còn rất mới và không phổ biến, mình sẽ chỉ nói về năm chuẩn phổ biến nhất. (a, b, g, n, và ac)

Chuẩn Wi-Fi 802.11-b: Đây chính là chuẩn Wi-Fi đầu tiên được ứng dụng rộng rãi trên toàn cầu. Thoạt nhìn, các bạn sẽ để ý, “Từ từ, đáng lẽ a phải là chuẩn đầu tiên chứ nhỉ?” Nực cười thay, các nhà phát minh ra chuẩn Wi-Fi đầu tiên này lại gọi nó là 802.11b-1999 hay 802.11b. (802.11 là mã đặc biệt ám chỉ tín hiệu Wi-Fi) Nếu đơn giản hóa, chuẩn này sử dụng băng tần 2.4 GHz và có tốc độ đường truyền lên đến 11 Mb/s, rất là chậm so với chuẩn chung hiện nay. Hơn nữa, tín hiệu phát ra từ router chuẩn b có thể lan ra tới 300 feet hay 91,44 mét, cũng khá xa. Như mình đã nói bên trên, băng tần 2.4 GHz rất phổ biến trên toàn thế giới, không chỉ sóng Wi-Fi, sóng từ lò vi sóng, điện thoại bàn không dây, và rất nhiều các thiết bị điện từ phát sóng cũng dùng băng tần này. (Đây cũng là lý do bạn không nên để router gần phòng bếp, nơi có lò vi sóng, tại vì sóng từ thiết bị này là kẻ thủ lớn nhất khiến mạng nhà bạn chập chờn.) 802.11-b sau đó sẽ sớm được thay thế lên chuẩn 802.11-a

Chuẩn Wi-Fi 802.11-a: Hiểu được sự phiền toái khi có nhiều thiết bị cùng dùng băng tần 2.4 GHz, các nhà sáng chế đã tạo ra chuẩn Wi-Fi mới được gọi là 802.11-a để thay thế chuẩn b trước đó. Điều đâu tiên khiến chuẩn này tốt hơn b đó là nó dùng băng tần 5.0 GHz, (Vâng, có thể nhiều bạn nghĩ băng tần 5.0 GHz mới có trong thời gian gần đây nhưng thực sự nó xuất hiện trên thị trường gần 15 năm.) điều này giúp loại bỏ việc tín hiệu bị xung đột với các thiết bị khác, tăng tốc độ ổn định. Tuyệt vời hơn, chuẩn a cũng được nâng cấp về mặt tốc độ đường truyền, từ 11 Mb/s lên thành 54 Mb/s. Tuy nhiên, diện tích lan rộng của chuẩn Wi-Fi này chỉ bằng một nửa so với thế hệ trước cũng như vì sự mới mẻ của băng tần 5.0 GHz của các thiết bị nhận sóng Wi-Fi, chuẩn 802.11-a không thực sự được chào đón cũng như sử dụng rộng rãi như các chuẩn khác.

Chuẩn Wi-Fi 802.11-g: 802.11-g được ra mắt vào năm 2003, lấy tất cả những gì tinh túy nhất từ hai thế hệ trước và hợp lại thành một chuẩn. Thứ nhất, tốc độ của chuẩn g là tầm khoảng 54 Mb/s, khá nhanh ở thời điểm đó. Điều thứ hai đó là độ lan rộng cũng đã được nâng lên lại thành 91,44 mét. Và điều thứ ba và cũng là điều mà khiến nhiều người ngạc nhiên, đó là chuẩn g dùng lại băng tần 2.4 GHz cũ. Có một vài lý do để giải thích cho điều này, nhưng điều lớn nhất khiến các nhà sáng chế quyết định quay lại với chuẩn cũ đó chính là sự tương thích với chuẩn 802.11-b, có nghĩa là các thiết bị bắt sóng chuẩn 802.11-b và g đều có thể bắt được sóng từ router phát ra 802.11-g. Chuẩn này được sự dụng rất nhiều trên toàn thế giới cho đến khi chuẩn 802.11n ra mắt.

Chuẩn Wi-Fi 802.11-n: 802.11-n là chuẩn được sự dụng rộng rãi nhất vào thời điểm hiện tại. (dần dần được thay thế bới 802.11-ac do việc giảm giá thành áp dụng của router sử dụng chuẩn này) So với 802.11-g, chuẩn n mang đến một số cải tiến quan trọng nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng gia tăng về mặt ổn định, tốc độ, các công nghệ mới mà người dùng yêu cầu, cũng như áp dụng công nghệ truyền tải sóng Wi-Fi qua nhiều ăng ten. (nhiều nhất là bốn) Công nghệ multiple in/ multiple out (MIMO) cũng được giới thiệu cùng chuẩn n, cho phép nhiều thiết bị cùng truy cập vào một WAP tại cùng một thời điểm. Hơn nữa, công nghệ transmit beamforming cũng được áp dụng nếu router có nhiều ăng ten, giúp giảm thiểu các góc chết, những nơi sóng Wi-Fi yếu. Để làm được điều này, router sẽ kiểm tra và phát hiện toàn bộ các thiết bị kết nối Wi-Fi trong nhà, sau khi chip xử lý đã định vị xong, nó sẽ tăng thêm sức mạnh sóng cho ăng ten đang chĩa vào thiết bị bắt Wi-Fi, tăng sự ổn định cũng như tốc độ của đường truyền. Cuối cùng, tốc độ của chuẩn 802.11-n cũng được cải thiện đáng kể, từ 54 Mb/s của g lên thành 600 Mb/s của n, đáp ứng được yêu cầu tất yếu của đại đa số các hộ gia đình. Băng tần cũng đã được cải thiện, thay vì chỉ dùng hoặc là 5 GHz như a, hay 2.4 GHz như b và g, n hỗ trợ cả 2.4 GHz cũng như 5 GHz. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của bản thân, mình hầu như chỉ thấy router chuẩn n phát ra tín hiệu ở băng tần 2.4 GHz.

Chuẩn Wi-Fi 802.11-ac: Đây chính là chuẩn Wi-Fi được thương mại hóa rộng rãi mới nhất hiện nay. Cùng với tốc độ cải thiện lên tới 1,3 Gb/s (Chuẩn ac 1900. Tại thời điểm viết bài, chúng ta có tổng cộng 16 chuẩn ac khác nhau với tốc độ truyền tải cũng khác nhau), tăng hơn gấp đôi so với n, ac cũng mang tới trải nghiệm tốt hơn cho người dùng, nhất là đối với các bạn có nhu cầu chơi game ổn định cao hay download tốc độ nhanh. Bên cạnh tốc độ tuyệt vời, số lượng ăng ten hỗ trợ của chuẩn ac cũng được tăng từ 4 lên 8, giúp nhiều người dùng cùng có thể kết nối đến một router (8 người) mà không phải hi sinh về mặt tốc độ tải và upload.

Các công nghệ bảo mật dành cho Wi-Fi:


Trên thực tế, ngay từ những ngày đầu tiên của chuẩn 802.11-b, các chuyên gia cũng đã bắt đầu áp dụng các công nghệ bảo mật dành riêng cho Wi-Fi nhằm đảm bảo an toàn viễn thông của người dùng. Hãy cũng nhau tìm hiểu qua một số các công nghệ phổ biến nhất!

Service set identifier (SSID): Thực lòng mà nói, đây cũng không hẳn là một công nghệ bảo mật, nói đúng hơn là bật hay tắt chức năng này nhằm gia tăng bảo mật. Các bạn hẳn cũng quen thuộc với kiểu đặt tên router Wi-Fi nhà mình theo sở thích cá nhân. Vậy bạn có biết là thực chất những tên bạn đặt cho Wi-Fi hay tên đặt mặc định của nhà sản xuất đều là xuất phát từ đây. Trên thực tế, nói một cách ngắn gọn là một trong những điểm yếu bảo mật của Wi-Fi đó là thường thì các nhà sản xuất hay để tên Wi-Fi của bạn mặc định và không có mật khẩu đi kèm. (Hiện tại thì họ cũng đã bắt đầu đặt thêm mật khẩu mặc định trước khi bán ra thị trường, và router mình đang sử dụng có nó) SSID chính là lá chắn bảo mật đầu tiên. Nhiệm vụ của nó là định nghĩa tên của router cũng như mật khẩu của router nhằm chống lại những thiết bị trái phép. SSID gồm hai phần, SSID name hay tên Wi-Fi và SSID password hay mật khẩu của Wi-Fi. Lý do mình nói đây không phải là một công nghệ bảo mật thực sự mà chỉ là bật tắt nó. Ý mình ở đây là bạn hoàn toàn có thể bật hoặc tắt việc phát SSID name của bạn đi và khiến router Wi-Fi của bạn ẩn. (nhưng vẫn hoàn toàn có thể tìm ra một cách dễ dàng nếu am hiểu một chút về cách Wi-Fi hoạt động)

MAC Address Filtering: Công nghệ này thì đã có mặt khá lâu, thời gian cài đặt khá là rườm rà, nhưng lại là cách bảo vệ Wi-Fi nhà bạn khỏi bị nhà hàng xóm bắt trộm hay tất cả các kiểu truy cập trái phép hữu hiệu nhất. Cách hoạt động rất đơn giản, nhưng trước đó thì bạn cần phải hiểu MAC Address là gì đã. Media Access Control hay MAC (Address là địa chỉ, vậy MAC Address là địa chỉ MAC) là một đoạn code 48-bit gồm sáu tổ hợp hai số gộp lại với nhau, ví dụ: 07-FF-56-A9-A0-DF. Giải thích ngắn gọn thì đây là đoạn code đã gắn liền với máy của bạn (nói chính xác hơn là card mạng hay NIC) một cách vĩnh viễn và rất khó để thay đổi. Từ đó, MAC Address Filtering hoạt động bằng cách bạn tạo ra một danh sách trắng hoặc đen gồm MAC Address của đối tượng bạn muốn hướng tới. Danh sách đen thì tất cả các MAC Address trên đấy đều không thể vào Wi-Fi của bạn, kể cả khi đối tượng biết mật mã. Danh sách trắng thì tất cả các MAC Address đều không thể vào Wi-Fi của bạn trừ MAC bạn đã liệt kê trong danh sách. Router trên thị trường thì loại cũ chỉ có danh sách đen, mới thì có cả hai. Tóm lại, nếu bạn mới lắp đặt hệ thống Wi-Fi mà không muốn máy người khác truy cập vào, hãy dùng thử MAC Address Filtering. Bạn có thể lên mạng mày mò cách dùng chức năng này do có hang triệu mẫu mã Router, mình không thể hướng dẫn một cái router nào nhất định.

Wired Equivalent Privacy (WEP): Từ thời Wi-Fi mới bắt đầu được triển khai, đây chính là lựa chọn đầu tiên và cũng là sự lựa chọn duy nhất để mã hóa mật khẩu cũng như thông tin được truyền qua sóng Wi-Fi. WEP sử dụng chuẩn mã hóa 40-bit và một số các nhà sản xuất lúc đó có hỗ trợ mã hóa 104-bit. Không may, do là thế hệ đầu tiên, WEP có chứa rất nhiều các điểm yếu liên quan đến sức mạnh bảo mật, với công nghệ hack hiện nay, bạn chỉ cần lên mạng, tìm một phần mềm phá khóa Wi-Fi, và chỉ sau 5 phút, tất cả các mật khẩu dùng chuẩn WEP đều sẽ bị hack. Tuy WEP vẫn tốt hơn là không có gì, các router hiện nay đều có các lựa chọn khác tốt hơn và bạn hãy kiểm tra để chắc chắn router nhà bạn không dùng WEP.

Wi-Fi Protected Access (WPA): Phiên bản mã hóa này sửa chữa được những điểm yếu của WEP và giới thiệu nhiều công nghệ mới. Đầu tiên là Temporal Key Integrity Protocol (TKIP), công nghệ bảo mật với cách hoạt động là mỗi một nhóm dữ liệu được truyền qua Wi-Fi, nó sẽ cung cấp một cái khóa riêng biệt, giúp việc tin tặc ăn cắp thông tin qua sóng Wi-Fi một cách khó khăn hơn. (trong thời đại hiện nay thì công nghệ này bị bẻ khóa khá dễ dàng bởi hacker chuyên nghiệp) Hơn nữa, sự ra đời của công nghệ bảo mật MAC Address mới đó là Extensible Authentication Protocol (EAP) cũng là một điểm vượt trội của WPA so với WEP. Hiện nay thì mặc dù có rất nhiều cải tiến về mặt bảo mật, WPA vẫn thực sự rất dễ bị hack và thường thì không nên dùng nếu có lựa chọn tốt hơn.

Wi-Fi Protected Access 2 (WPA2): Phiên bản mã hóa mới nhất mà gần như Wi-Fi nhà nào cũng có. Giải thích về chuẩn này rất đơn giản và ngắn gọn. Điều quan trọng nhất mà các bạn nên biết đó là tất cả các dữ liệu được truyền qua Wi-Fi dùng chuẩn này đều được mã khóa bằng chuẩn Advanced Encryption Standard (AES) được phát triển vào thập niên 90 của thế kỷ trước (khá là lâu rồi, tuy nhiên, đừng để vẻ bề ngoài đánh lừa bạn. AES được dùng rất nhiều trong quân đội Mỹ để chuẩn các loại thông tin nhạy cảm từ nơi này sang nơi khác và cho đến tận ngày nay, hầu hết mọi thứ dùng chuẩn AES nói riêng hay WPA2 nói chung đều rất khó bẻ khóa hoặc không thể)

Ad hoc và Infrastructure mode:

Ad hoc: Ad hoc hay còn gọi là peer-to-peer là chế độ cho phép các thiết bị kết nối và trao đổi dữ liệu trực tiếp với nhau mà không cần qua một thiết bị trung gian nào như router. Ad hoc phù hợp cho một nhóm nhỏ muốn trao đổi thông tin với nhau mà không cần đến kết nối mạng (mình nhớ không nhầm thì một máy kết nối đến mạng cũng có thể chia sẻ Internet với mọi người trong nhóm thông qua Ad hoc)

Infrustructure mode: Infrustructure (cơ sở hạ tầng) dùng một thiết bị trung gian (router) để quản lý kết nói giữa các máy tính một cách chặt chẽ hơn. Không như ad hoc, chế độ này yêu cầu cần phải có sự chuẩn bị, tính toán, sắp xếp, và sau cùng là cài đặt thật kỹ lưỡng. Đổi lại, bạn sẽ có một kết nối một cách bảo mật, dễ quản lý, bảo mật cao.

Một số chuẩn kết nối không dây khác:

Mình sẽ giới thiệu cho các bạn một số thông tin hữu ích thêm về hai chuẩn kết nối không dây tuy không mới nhưng vẫn được xử dụng khá rộng rãi, đó là Bluetooth và hồng ngoại.

Bluetooth: Chắc nhiều bạn cũng biết khá nhiều về chuẩn này. Bản thân mình đã có một thời đáng nhớ những năm trung học cơ sở với giao tiếp này. Cứ mỗi khi trong lớp mình có chuyện “nóng”, c